Các thiên trước:
《五帝本紀》 – Ngũ Đế bản kỷ
Ghi chép về thời đại huyền sử của năm vị thánh đế: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, và Đế Thuấn.
《夏本紀》 – Hạ bản kỷ
Ghi chép về vua Hạ Vũ lập ra nhà Hạ và các vua kế tục cho đến Hạ Kiệt, vị vua cuối cùng bị nhà Thương diệt.
《殷本紀》 – Ân bản kỷ
Ghi chép lịch sử nhà Ân (tức nhà Thương), từ Thành Thang đến Trụ Vương.
《周本紀》 – Chu bản kỷ
Ghi chép lịch sử nhà Chu, từ Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương, Chu Thành Vương… cho đến thời Đông Chu suy vi.
《秦本紀》 – Tần bản kỷ
Trình bày lịch sử nước Tần trước khi thống nhất thiên hạ, từ Tần Tương Công cho đến Hiếu Công, Huệ Văn Vương, Chiêu Tương Vương, và Trang Tương Vương.
Xin đọc TẠI ĐÂY.
SỬ KÝ
TƯ MÃ THIÊN
Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ
Bản dịch được thực hiện bằng công nghệ AI
Kim Lưu soát lỗi và hiệu đính
Tần Thủy Hoàng đế là con của Tần Trang Tương vương. Trang Tương vương từng làm con tin nước Tần tại nước Triệu, gặp được ái thiếp của Lã Bất Vi, lấy làm vợ, sinh ra Thủy Hoàng.
Vào tháng Giêng năm thứ bốn mươi tám đời Tần Chiêu vương, Thủy Hoàng sinh tại Hàm Đan. Lúc sinh ra đặt tên là Chính, mang họ Triệu.
Năm mười ba tuổi, Trang Tương vương mất, Chính nối ngôi làm vua nước Tần.
Khi ấy, đất Tần đã thôn tính được Ba, Thục, Hán Trung; vượt đất Uyển lấy được Ứng, lập quận Nam Quận; phía bắc lấy đất từ Thượng quận trở về đông, gồm Hà Đông, Thái Nguyên, Thượng Đảng; phía đông đến đất Ứng Dương, diệt hai nhà Chu, lập quận Tam Xuyên.
Lã Bất Vi làm tướng quốc, được phong mười vạn hộ, hiệu là Văn Tín hầu. Ông chiêu mộ hiền sĩ và du thuyết khách, mong hợp nhất thiên hạ. Lý Tư làm xá nhân. Mông Ngao, Vương Nghi, Phiêu Công đều là tướng quân.
Vua tuổi còn nhỏ, mới lên ngôi, mọi việc trong nước giao cho đại thần xử lý.
Năm thứ nhất, đất Tấn Dương làm phản, sai tướng quân Mông Ngao đánh dẹp, bình định được.
Năm thứ hai, Phiêu Công đem quân đánh thành Quyển, chém được ba vạn thủ cấp.
Năm thứ ba, Mông Ngao đánh nước Hàn, lấy được mười ba thành. Vương Nghi mất. Tháng mười, tướng quân Mông Ngao đánh nước Ngụy, hạ được các thành Xướng và Hữu Quỹ. Năm ấy mất mùa đói kém.
Năm thứ tư, hạ được Xướng và Hữu Quỹ. Tháng ba, giải binh. Con tin nước Tần trở về từ nước Triệu, thái tử nước Triệu trở về nước. Tháng mười, ngày Canh Dần, châu chấu từ phương Đông bay đến, che kín bầu trời. Dịch bệnh lan khắp thiên hạ. Ai nộp ngàn thạch thóc được ban thưởng tước một cấp.
Năm thứ năm, tướng quân Mông Ngao đánh nước Ngụy, chiếm được các thành Toan Táo, Yên, Hư, Trường Bình, Ung Khâu, Sơn Dương, đều phá hạ được, tổng cộng hai mươi thành. Lần đầu đặt ra quận Đông Quận. Mùa đông có sấm sét.
Năm thứ sáu, năm nước Hàn, Ngụy, Triệu, Vệ, Sở cùng đánh Tần, lấy được Thọ Lăng. Tần phát binh, liên quân năm nước lui. Hạ nước Vệ, áp sát Đông Quận. Quốc quân nước Vệ là Giác đem gia quyến dời sang ở Nhã Vương, dựa núi mà giữ đất Hà Nội của nước Ngụy.
Năm thứ bảy, sao chổi hiện ra trước tiên ở phương Đông, rồi thấy ở phương Bắc, đến tháng năm lại thấy ở phương Tây. Tướng quân Mông Ngao mất. Ông từng đánh Long, Cô, Khánh Đô, rồi lui quân đánh Cấp. Sao chổi lại hiện ở phương Tây mười sáu ngày. Thái hậu Hạ mất.
Năm thứ tám, em vua là Trường An quân Thành Kiều làm tướng đánh Triệu, làm phản, chết ở Đồn Lưu. Các quan quân đều bị chém đầu, dân chúng bị dời sang Lâm Thao. Tướng quân Bích chết. Quân đóng ở Đồn Lưu và Bồ Hạc làm phản, bị chém xác. Cá sông nổi lên rất nhiều, xe nhẹ ngựa khỏe kéo về phương Đông để kiếm ăn.
Lạo Ái được phong làm Trường Tín hầu, ban cho đất Sơn Dương, truyền cho Ái cư ngụ nơi đó. Cung thất, xe ngựa, y phục, vườn ngự, săn bắn… đều phó mặc cho Ái, việc lớn nhỏ trong triều đều do Ái quyết đoán. Lại lấy đất Hà Tây và quận Thái Nguyên lập thành nước của Ái.
Năm thứ chín, sao chổi xuất hiện, có khi vắt ngang trời. Tần đánh đất Vi, thành Viên, thành Bồ Dương. Tháng tư, thượng quân trú đóng ở đất Ung. Ngày Kỷ Dậu, nhà vua đội mũ làm lễ đăng quang, đeo kiếm. Trường Tín hầu Lạo Ái làm loạn bị phát giác, giả truyền ngọc tỷ của vua và tỷ ấn của Thái hậu để điều động lính các huyện, lính vệ, quân kỵ triều đình, các vương công Hung Địch và đám xá nhân, mưu định đánh cung Kỳ Niên để làm loạn.
Vua biết chuyện, sai tướng quốc Xương Bình quân và Xương Văn quân phát binh đánh Lạo Ái. Giao chiến tại Hàm Dương, chém hàng trăm thủ cấp, tất cả đều được ban thưởng tước vị; các hoạn quan có mặt nơi trận cũng đều được thăng một cấp. Lạo Ái và bè đảng thua trận chạy trốn. Nhà vua hạ lệnh trong nước: ai bắt sống được Lạo Ái thì thưởng một triệu tiền; ai giết được thì năm trăm nghìn. Rốt cuộc đều bắt được bọn chúng. Vệ úy Kiệt, Nội sử Tự, Tả Dực Kiệt, Trung đại phu Lệnh Tề cùng hai mươi người khác đều bị chém đầu bêu xác. Lạo Ái bị xe xé xác thị chúng, diệt tộc. Đám xá nhân theo ông ta, kẻ nhẹ thì đày làm phu đốt củi. Còn lại hơn bốn nghìn nhà bị tước tước phong, đày đi đất Thục và Phòng Lăng. Tháng ấy trời lạnh cóng, có người chết vì rét. Dương Đoan Hòa đánh đất Diễn Thị. Sao chổi lại hiện phương Tây, rồi lại thấy ở phương Bắc, kéo từ chòm sao Đẩu xuống phía Nam suốt tám mươi ngày.
Năm thứ mười, tướng quốc Lã Bất Vi bị tội vì vụ án của Lạo Ái, bị miễn chức. Hoàn Nghi làm tướng quân. Nước Tề và Triệu đến thiết yến. Người Tề là Mao Giao nói với vua Tần rằng: “Nay Tần đang mưu nghiệp thiên hạ, mà đại vương lại mang danh dời Thái hậu, e rằng chư hầu nghe được sẽ rời bỏ Tần mà đi.” Vua Tần bèn đón Thái hậu từ Ung về, cho ở lại cung Cam Tuyền.
Kế đó đại tra xét trong nước, ban lệnh trục xuất người ngoài; Lý Tư dâng thư can gián, nên bãi bỏ lệnh ấy. Nhân thế, Lý Tư thuyết vua Tần rằng: “Xin trước đánh Hàn để răn các nước khác.” Vua theo kế ấy, sai Lý Tư đến nước Hàn. Vua Hàn lo lắng, cùng Hàn Phi mưu tính việc làm suy yếu nước Tần. Người đất Đại Lương là Úy Liêu đến, nói với vua Tần rằng:
“Lấy sức Tần, thì chư hầu chẳng qua như các châu quận, thần chỉ lo bọn họ hợp tung, tập hợp bất ngờ, đó là điều khiến Trí Bá, Phù Sai, Mẫn vương phải mất nước. Mong đại vương chớ tiếc của, dùng tiền tài mua chuộc các đại thần của họ để làm loạn mưu đồ, không quá ba mươi vạn vàng, thì chư hầu tất rối loạn.” Vua Tần theo kế ấy, đối đãi Úy Liêu hết mực lễ trọng, ăn mặc, uống dùng đều như ông ta.
Úy Liêu nói: “Vua Tần là người sống mũi nhọn, mắt dài, ngực như chim ưng, tiếng như thú dữ, ít lòng nhân, bụng dạ lang sói. Khi còn nghèo thì dễ nhún mình dưới kẻ khác, nhưng lúc đắc chí thì ăn tươi nuốt sống người ta. Ta là kẻ áo vải, mà thấy ta, y vẫn hạ mình. Nếu để vua Tần đắc thế trong thiên hạ, thì thiên hạ đều sẽ thành nô lệ. Không thể giao du lâu dài được.” Rồi bỏ trốn. Vua Tần biết, cố giữ lại, phong làm Úy nước Tần, cuối cùng vẫn dùng kế sách của ông ta. Còn Lý Tư thì được trọng dụng.
Năm thứ mười một, Vương Tiễn, Hoàn Nghi, Dương Đoan Hòa đánh đất Nghiệp, lấy được chín thành. Vương Tiễn đánh đất Yết Dư, Lão Dương, hợp quân làm một. Tiễn hành quân mười tám ngày, binh lính ăn uống tằn tiện, mười người thì chọn hai người theo quân, đánh lấy đất Nghiệp, An Dương. Hoàn Nghi chỉ huy.
Năm thứ mười hai, Văn Tín hầu Lã Bất Vi chết, được chôn trộm. Đám xá nhân đến viếng là người đất Tấn, bị đuổi. Những người Tần từ sáu trăm thạch trở lên bị tước phong và dời đi nơi khác; từ năm trăm thạch trở xuống, nếu không đến viếng thì chỉ bị dời đi mà không tước. Từ nay về sau, ai như Lạo Ái, Lã Bất Vi làm việc quốc gia bất chính, thì xét đến cả nhà họ. Mùa thu, tha tội cho đám xá nhân từng bị đày theo vụ Lạo Ái. Khi ấy thiên hạ đại hạn, từ tháng sáu đến tháng tám mới có mưa.
Năm thứ mười ba, Hoàn Nghi đánh nước Triệu, lấy Bình Dương, giết tướng Triệu là Hỗ Triệt, chém mười vạn thủ cấp. Vua hành quân đến phía nam sông Hoàng. Tháng giêng, sao chổi xuất hiện ở phương Đông. Tháng mười, Hoàn Nghi lại đánh Triệu.
Năm thứ mười bốn, đánh quân Triệu ở Bình Dương, lấy đất Nghi An, phá được quân, giết tướng địch. Hoàn Nghi bình định Bình Dương, Vũ Thành. Hàn Phi được sai sang Tần, Tần dùng kế của Lý Tư, lưu giữ không cho về, Hàn Phi chết ở Vân Dương. Vua Hàn xin làm chư hầu.
Năm thứ mười lăm, đại phát binh, một đạo đến đất Nghiệp, một đạo đến Thái Nguyên, lấy Lang Mạnh. Động đất.
Năm thứ mười sáu, tháng chín, phát quân giao cho Hàn Nam Dương giả thủ là Đằng. Lần đầu tiên truyền lệnh nam nhân phải khai tuổi. Nước Ngụy hiến đất cho Tần. Tần lập ấp Lệ.
Năm thứ mười bảy, Nội sử Đằng đánh Hàn, bắt được Hàn vương An, thu toàn bộ đất Hàn, lập làm quận, đặt tên là quận Ứng Xuyên. Động đất. Hoa Dương Thái hậu mất. Dân đói lớn.
Năm thứ mười tám, đại phát binh đánh Triệu. Vương Tiễn tiến quân từ đất Thượng, vượt ải Tỉnh Hình. Đoan Hòa tiến từ Hà Nội. Khương Toại đánh Triệu, Đoan Hòa vây thành Hàm Đan.
Năm thứ mười chín, Vương Tiễn, Khương Toại bình định đất Triệu phía đông Dương, bắt được Triệu vương. Kéo quân định đánh Yên, đóng quân ở Trung Sơn. Vua Tần đến Hàm Đan, những người từng thù oán với mẹ nhà vua thời còn ở Triệu đều bị chôn sống. Vua Tần trở về, đi qua Thái Nguyên, Thượng Quận để hồi cung. Thái hậu, mẹ của Tần Thủy Hoàng băng.
Công tử Triệu là Gia, đem theo mấy trăm người dòng tộc chạy sang đất Đại, tự lập làm Đại vương, kết liên với Yên, kéo quân đánh lên đất Thượng Cốc. Mùa ấy đại hạn mất mùa.
Năm thứ hai mươi, thái tử nước Yên là Đan lo sợ quân Tần sẽ vào nước mình, sai Kinh Kha đi thích sát vua Tần. Vua Tần biết trước, chém xác Kinh Kha bêu thiên hạ, rồi sai Vương Tiễn, Tân Thắng đánh Yên. Quân Yên và Đại kéo binh đánh quân Tần, nhưng bị quân Tần đánh bại ở phía tây sông Dịch.
Năm thứ hai mươi mốt, Vương Bôn đánh Yên (chữ 薊 theo bản khác là 荊 – Kinh). Lại phát thêm binh đến nhập quân với Vương Tiễn, đánh tan quân thái tử Đan, lấy thành Kế của Yên, bắt được thủ cấp của thái tử Đan. Vua Yên lui về đất Liêu Đông, lập làm chỗ đóng đô. Vương Tiễn cáo bệnh già, xin về. Tân Trịnh làm phản. Xương Bình quân bị dời đến đất Ứng. Trời mưa tuyết lớn, dày hai thước năm tấc.
Năm thứ hai mươi hai, Vương Bôn đánh nước Ngụy, dẫn nước sông đào ngòi tưới tràn vào Đại Lương, thành sụp. Vua Ngụy xin đầu hàng, toàn thổ được thu về.
Năm thứ hai mươi ba, vua Tần lại triệu Vương Tiễn, ép ông xuất chinh, giao cho đánh nước Sở. Lấy được đất từ Trần trở xuống đến Bình Dư, bắt sống Sở vương. Vua Tần tuần du đến đất Ứng và Trần. Tướng Sở là Hạng Yên lập Xương Bình quân làm Sở vương, chống Tần ở phía nam sông Hoài.
Năm thứ hai mươi bốn, Vương Tiễn và Mông Vũ đánh Sở, phá được quân Sở, Xương Bình quân tử trận, Hạng Yên tự sát.
Năm thứ hai mươi lăm, đại phát binh, sai Vương Bôn đem quân đánh nước Yên, tiến đến Liêu Đông, bắt được Yên vương Hỷ. Rồi quay lại đánh nước Đại, bắt được Đại vương Gia. Vương Tiễn bình định vùng Giang Nam đất Sở, khiến vua Việt đầu hàng, đặt làm quận Cối Kê. Tháng năm, thiên hạ đại tổ chức lễ uống rượu mừng (đại bồ).
Năm thứ hai mươi sáu, Tề vương Kiến cùng tể tướng Hậu Thắng phát binh phòng thủ biên cương phía Tây, không cho quân Tần thông hành. Tần sai tướng quân Vương Bôn xuất quân từ phía nam đất Yên đánh Tề, bắt được Tề vương Kiến.
Khi vua Tần mới thống nhất thiên hạ, bèn ra lệnh cho thừa tướng và ngự sử rằng:
“Trước kia, Hàn vương dâng đất, nộp quốc ấn, xin làm chư hầu, nhưng sau lại bội ước, liên minh với Triệu và Ngụy, phản Tần, vì thế khởi binh thảo phạt, bắt được vua Hàn. Trẫm thấy việc ấy là đúng, mong lấy đó mà dừng binh đao. Triệu vương sai tể tướng Lý Mục đến hứa kết minh, ta bèn trả con tin. Nhưng sau lại bội minh, đánh lại Thái Nguyên của ta, nên lại phải khởi binh trừng phạt, bắt được vua Triệu. Công tử Gia nước Triệu tự lập làm Đại vương, nên khởi binh tiêu diệt. Ngụy vương ban đầu quy phục, sau lại mưu cùng Hàn, Triệu đánh úp Tần, bị quan quân bắt được, nên cũng phá diệt. Sở vương dâng đất phía tây Thanh Dương, rồi lại bội ước, đánh Nam quận, nên phát binh trừng trị, bắt được vua Sở, toàn đất Sở quy về. Yên vương mê loạn, thái tử Đan ngấm ngầm sai Kinh Kha hành thích, bị giết, nên diệt nước Yên. Tề vương nghe kế Hậu Thắng, tuyệt đường sứ Tần, mưu tạo phản, nên bị quân bắt, lấy đất Tề. Trẫm lấy thân hèn mọn, khởi nghĩa binh, trừ loạn nghịch, nhờ linh thiêng tổ miếu, sáu nước đều chịu hình phạt, thiên hạ thống nhất. Nay nếu danh hiệu không đổi, thì không thể xứng với công nghiệp, truyền đến đời sau. Nên bàn định hiệu xưng đế.”
Thừa tướng Uyển, ngự sử đại phu Kiếp, đình úy Tư và các quan đều nói:
“Xưa ngũ đế trị đất ngàn dặm, chư hầu ngoại phục, hoặc đến triều, hoặc không, thiên tử cũng không thể chế ngự. Nay bệ hạ khởi nghĩa binh, trừ tàn bạo, thống nhất thiên hạ, trong bốn biển đều làm quận huyện, pháp lệnh nhất thống, từ xưa đến nay chưa từng có, vượt cả ngũ đế. Thần cùng học sĩ bàn rằng: xưa có Thiên hoàng, Địa hoàng, Thái hoàng, trong đó Thái hoàng là tôn quý nhất. Nay xin dâng tôn hiệu là ‘Thái hoàng’. Gọi lệnh là ‘chế’, gọi truyền là ‘chiếu’, thiên tử tự xưng là ‘Trẫm’.”
Vua nói:
“Bỏ chữ ‘Thái’, giữ chữ ‘Hoàng’, lấy danh hiệu ‘Đế’ thời thượng cổ, hợp lại làm hiệu ‘Hoàng Đế’. Các việc khác theo như nghị bàn.”
Ra chế rằng: “Được.” Truy tôn Trang Tương vương làm Thái Thượng hoàng.
Lại ban chế rằng:
“Trẫm nghe thời Thái cổ chỉ có hiệu, không có thụy; thời Trung cổ có hiệu, sau chết lấy hành trạng mà đặt thụy. Như thế là để con nghị về cha, thần nghị về vua, việc ấy chẳng hợp lý, Trẫm không theo. Từ nay về sau, bỏ thụy chế. Trẫm là ‘Thủy Hoàng Đế’. Đời sau lấy số mà xưng, nhị thế, tam thế cho đến vạn thế, truyền mãi không cùng.”
Thủy Hoàng Đế khảo xét mối truyền ngũ đức thịnh suy, cho rằng nhà Chu ứng Hỏa đức, mà Tần thay Chu thì nên theo cái đức mà Hỏa không thắng được. Cho nên chọn Thủy đức làm khởi đầu. Đổi mốc đầu năm, lấy mùng một tháng mười làm chính sóc cho triều hội. Áo mũ, cờ tiết đều dùng màu đen. Số đếm lấy số sáu làm chủ. Ấn, luật, mũ miện đều dài sáu tấc, xe rộng sáu thước, lấy sáu thước làm một bộ, xe kéo sáu ngựa. Đổi tên sông Hoàng thành Đức Thủy, lấy làm biểu tượng của Thủy đức. Cương nghị nghiêm khắc, mọi việc quyết đoán theo pháp, khắc bạc không nhân hậu, hòa nghĩa, mà hợp số ngũ đức. Vì thế pháp luật nghiêm ngặt, ai phạm tội lâu không được tha.
Thừa tướng Uyển dâng tấu:
“Lúc mới phá chư hầu, các đất Yên, Tề, Sở đều xa xôi, chưa đặt vương, không có người trấn giữ. Xin lập các công tử để cai quản, chỉ xin bệ hạ cho phép.”
Thủy Hoàng đem việc này giao cho các đại thần bàn luận, ai nấy đều cho là tiện lợi. Nhưng đình úy Lý Tư bàn rằng:
“Chu Văn Vương, Vũ Vương từng phong con cháu đồng tông rất nhiều, rồi sau xa cách, đánh nhau như kẻ thù. Các chư hầu chém giết lẫn nhau, thiên tử nhà Chu cũng không ngăn nổi. Nay nhờ thần linh bệ hạ thống nhất thiên hạ, đều làm quận huyện. Các công tử, công thần nên lấy công thuế thưởng hậu, dễ dàng quản lý. Thiên hạ không chia ý thì mới an định. Lập chư hầu không tiện.”
Thủy Hoàng nói:
“Thiên hạ cùng khổ vì chiến tranh không ngớt, cũng vì có hầu vương. Nay nhờ tổ miếu linh thiêng mới bình định được. Nếu lại lập nước, khác nào lại gây binh đao, mà mong yên ổn sao được! Lời đình úy hợp ý Trẫm.”
Chia thiên hạ làm ba mươi sáu quận, mỗi quận đặt Thái Thủ, Úy, Giám. Đổi tên dân làm “黔首” (kẻ đầu đen). Mở tiệc rượu lớn. Thu gom binh khí trong thiên hạ, tập trung về Hàm Dương, nấu chảy đúc thành chuông vạc, tạo mười hai tượng người bằng đồng, mỗi tượng nặng ngàn thạch, đặt trong cung đình. Thống nhất hệ đo lường: cân, thước, trượng. Xe đi cùng cỡ. Chữ viết thống nhất. Cương vực phía đông tới biển và Triều Tiên, phía tây đến Lâm Thao, đất Khương, phía nam đến phương Bắc Hộ, phía bắc lấy sông Hoàng làm ranh giới, tiếp nối núi Âm đến Liêu Đông. Dời các hào phú trong thiên hạ về Hàm Dương mười hai vạn hộ. Các miếu, Trương Đài, Thượng Lâm đều ở phía nam sông Vị. Mỗi khi phá một nước chư hầu, đều mô phỏng cung điện của họ xây ở sườn bắc Hàm Dương, phía nam trông ra sông Vị, từ cửa Ung về phía đông đến sông Kinh, sông Vị, lầu điện, đường nối, hành lang thông nhau. Các mỹ nhân, chuông trống của chư hầu đều đưa vào cung.
Năm thứ hai mươi bảy, Thủy Hoàng tuần du Lũng Tây, Bắc Địa, vượt núi Kê Đầu, qua Hồi Trung. Dựng Tín cung ở phía nam sông Vị, đổi tên thành Cực miếu, tượng trưng cực trời. Từ Cực miếu mở đường đến Lịch Sơn, xây tiền điện Cam Tuyền. Đắp đường hầm nối liền với Hàm Dương. Năm ấy, ban thưởng tước một cấp. Sửa sang đường xa giá.
Năm thứ hai mươi tám, Thủy Hoàng đi về phía Đông thị sát các quận huyện, lên núi Trâu Dịch. Dựng bia đá, cùng các nho sinh nước Lỗ bàn luận, khắc bia tán dương công đức nước Tần, nghị bàn việc phong thiện và cúng tế sơn xuyên. Rồi lên núi Thái Sơn, lập bia, làm lễ phong thiện, tế cáo trời đất. Khi xuống núi, gặp mưa gió dữ dội, vua nghỉ dưới một gốc cây, nhân đó phong cây ấy làm “Ngũ Đại Phu”. Lễ thiện tại núi Lương Phụ. Khắc bia đá, văn rằng:
“Hoàng đế lâm vị, ban chế sáng pháp, bầy tôi sửa mình kính cẩn. Năm thứ hai mươi sáu, bắt đầu thống nhất thiên hạ, không ai không quy phục. Thân tuần du xa gần, leo đến Thái Sơn, ngó khắp bờ Đông. Quần thần tưởng nhớ sự tích, truy xét nguồn căn, kính ngưỡng công đức. Chính trị lưu hành, vật sản thuận hợp, đều có pháp độ. Đại nghĩa rạng rỡ, lưu truyền hậu thế, tuân giữ chẳng đổi. Hoàng đế thân thánh, đã bình thiên hạ, chẳng giải đãi việc trị. Sớm khuya cần mẫn, thiết lập lợi ích dài lâu, hết lòng đề cao giáo hóa. Giảng kinh truyền đạt, xa gần đều được chỉnh lý, thảy thảy tuân theo thánh ý. Tôn ti phân minh, nam nữ giữ lễ, cẩn thận tuân hành chức vụ. Trong ngoài sáng tỏ, không nơi nào không thanh tịnh, truyền dạy con cháu. Cảm hóa lan rộng vô cùng, vâng giữ di chiếu, mãi nối lời răn nặng nề.”
Tiếp đó, vua mở rộng cương vực đến tận Bột Hải phía đông, qua sông Hoàng, sông Chuế, lần đến tận núi Thành Sơn, lên đến núi Chi Phù, dựng bia khen công đức nước Tần rồi trở về.
Xuống phía Nam, đến đất Lãng Tà, rất đỗi vui thích, ở lại ba tháng. Bèn dời ba vạn hộ “kẻ đầu đen” đến ở dưới đài Lãng Tà, miễn thuế mười hai năm. Dựng đài Lãng Tà, lập bia đá khắc công đức nước Tần, bày tỏ ý chí. Văn rằng:
“Năm thứ hai mươi tám, Hoàng đế khởi nghiệp. Chính pháp bình ổn, muôn vật quy củ. Làm sáng tỏ việc người, hợp đạo cha con. Thánh minh nhân nghĩa, tỏ rõ đạo lý. Đông tới phương Đông, thăm xét quân dân. Việc lớn hoàn thành, bèn đến bờ biển. Công của Hoàng đế, khuyên nhủ gốc rễ. Đề cao nông nghiệp, bỏ nhẹ thương mại, khiến dân giàu có. Trong thiên hạ, lòng người hợp nhất. Khí cụ cùng chuẩn, chữ viết đồng nhất. Nơi mặt trời mặt trăng chiếu tới, nơi xe thuyền đi được, ai nấy đều hết tuổi thọ, không ai không được ý nguyện. Hành sự hợp thời, chính là Hoàng đế. Chỉnh đốn phong tục dị tộc, vượt sông băng rừng. Lo lắng cho dân, sớm tối không ngơi. Bỏ nghi, định pháp, ai nấy đều biết lẽ tránh. Phân nhiệm phương bá, việc trị thông suốt. Việc làm đúng đắn, không gì sai lệch. Minh đức Hoàng đế, soi xét bốn phương. Tôn ti quý tiện, theo thứ tự hành sự. Lãng Tà không dung tà ác, ai nấy đều chuộng trung lương. Lớn nhỏ tận tâm, không ai dám biếng trễ. Xa gần đều giữ nghiêm cẩn, hết lòng giữ trang nghiêm. Ngay thẳng trung hậu, sự nghiệp bền vững. Đức của Hoàng đế, ổn định bốn cực. Trừ loạn diệt hại, gây lợi đem phúc. Việc hợp thời tiết, sản vật sinh sôi. Dân an yên, không cần binh đao. Lục thân bảo bọc lẫn nhau, tuyệt không giặc cướp. Vui mừng vâng theo giáo hóa, ai nấy hiểu rõ pháp luật. Trong lục hợp, đều là đất của Hoàng đế. Tây đến tận Lưu Sa, nam cùng cực Bắc Hộ. Đông giáp Đông Hải, bắc vượt Đại Hạ. Nơi nào có dấu chân người đến, không ai không quy phục. Công vượt Ngũ Đế, ân tràn đến cả trâu ngựa. Không ai chẳng thọ đức, ai nấy yên ổn nơi mình ở.”
Tần vương đã thống nhất thiên hạ, xưng hiệu Hoàng đế, liền đi an phủ miền Đông, đến đất Lãng Tà.
Các liệt hầu như Vũ Thành hầu Vương Ly, Thông Vũ hầu Vương Bôn, Kiến Thành hầu Triệu Hài, Xương Vũ hầu Thành, Vũ Tín hầu Phùng Vô Trạch, thừa tướng Quỷ Lâm, thừa tướng Vương Uyển, khanh Lý Tư, khanh Vương Mậu, ngũ đại phu Triệu Anh, ngũ đại phu Dương Cừ đều theo đi, cùng nghị bàn bên bờ biển.
Họ rằng:
“Đời xưa, các bậc đế vương, đất không quá ngàn dặm, chư hầu giữ địa phận riêng, hoặc đến triều, hoặc không. Lại thường xâm lấn, nhiễu loạn, chém giết không dứt, song vẫn khắc đá ghi công mà truyền hậu thế. Ngũ Đế Tam Vương thuở trước, người thì dạy khác nhau, pháp luật không minh, vay mượn uy danh quỷ thần để hư dối kẻ xa, danh xưng không xứng với thực, nên chẳng bền lâu. Chưa kịp chết, chư hầu đã bội phản, pháp lệnh không thi hành.
Nay Hoàng đế thống nhất bốn biển, chia làm quận huyện, thiên hạ yên ổn. Tôn miếu rạng rỡ, hành đạo thực đức, hiệu xưng vinh hiển. Chúng thần xin cùng nhau tụng công đức Hoàng đế, khắc ghi vào kim thạch để làm khuôn mẫu muôn đời.”
Bấy giờ, người Tề là Từ Thị dâng sớ, nói rằng: “Ngoài biển có ba núi Thần: Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu – có các tiên nhân cư ngụ. Xin được trai giới, đem theo đồng nam đồng nữ đi tìm.”
Vua bèn sai Từ Thị đem theo mấy ngàn đồng nam đồng nữ, vào biển tìm tiên.
Thủy Hoàng trở về, đi qua đất Bành Thành, trai giới cầu đảo, muốn vớt đỉnh lớn nhà Chu ở sông Tứ. Sai một ngàn người lặn tìm dưới nước, không được. Lại đi về phía tây nam, vượt sông Hoài đến núi Hành, đất Nam Quận. Lên thuyền xuôi theo Trường Giang, đến núi Tương, cúng tế thần. Gặp gió lớn, suýt không vượt được. Vua hỏi các bác sĩ: “Thần núi Tương là ai?” Đáp rằng: “Nghe nói là con gái Nghiêu, vợ Thuấn, táng tại đây.”
Vua tức giận, sai ba ngàn tội đồ đẵn hết cây trên núi Tương, nhuộm đỏ cả núi. Từ Nam Quận, theo đường Vũ Quan mà trở về.
Năm thứ hai mươi chín, Thủy Hoàng du hành phương Đông. Đến Dương Vũ, trong vùng cát Bác Lang, bị bọn cướp kinh động. Truy tìm không được, bèn ra lệnh đại tra trong thiên hạ mười ngày.
Lên núi Chi Phù, khắc đá, văn viết:
“Năm thứ hai mươi chín, khi tiết xuân giữa mùa, khí dương ấm áp khởi đầu. Hoàng đế du Đông, tuần hành đến núi Chi Phù, trông ra biển lớn. Quần thần ngợi cảnh, tưởng nhớ công lao xưa, tụng niệm thuở đầu. Bậc Thánh lớn khởi trị, dựng pháp chế độ, hiển dương cương thường. Dạy chư hầu, thi hành văn huệ, tỏ rõ nghĩa lý. Sáu nước u mê, tham tàn không chán, giết hại không ngừng.
Hoàng đế thương dân, bèn phát binh thảo phạt, nêu cao võ đức. Chém giết kẻ bạo nghịch, thi hành lòng tin nghĩa, oai danh lan khắp, không ai không khuất phục. Diệt trừ cường bạo, cứu giúp dân đen, ổn định bốn phương. Phổ biến minh pháp, quản lý thiên hạ, muôn đời làm mẫu mực.
Thật vĩ đại thay! Trong bốn biển, ai nấy thuận theo thánh ý. Quần thần tụng công, xin khắc vào đá, lưu truyền pháp chế mãi mãi.”
Lại có văn bia phương Đông rằng:
“Năm thứ hai mươi chín, Hoàng đế du xuân, xem xét miền xa. Đến nơi tận cùng biển, lên núi Chi Phù, soi sáng phía đông. Trông rộng mỹ cảnh, quần thần tưởng nhớ, ngợi đạo sáng ngời. Pháp Thánh mới lập, dẹp loạn bên trong, trừ bạo bên ngoài. Võ uy lan khắp, chấn động tứ phương, bắt giết sáu vương. Hợp nhất thiên hạ, tai họa dứt tuyệt, vĩnh viễn đình binh. Hoàng đế đức sáng, cai trị thiên hạ, nghe nhìn không lười. Dựng nên đại nghĩa, chuẩn bị đồ vật, cờ hiệu có dấu. Quan chức theo phần, ai nấy rõ việc, không việc gì nghi ngờ. Dân đổi phong tục, gần xa cùng mực, vượt cổ siêu thường. Chức vị đã định, đời sau nối nghiệp, lâu dài hưởng phúc trị. Quần thần mừng đức, kính tụng thánh công, xin khắc đá Chi Phù.”
Sau đó lại tiến về đất Lãng Tà, theo đường Thượng Đảng mà vào.
Năm thứ ba mươi, không có sự việc gì lớn.
Năm thứ ba mươi mốt, tháng Chạp, đổi tên tiết Lạp thành “Gia Bình”. Ban cho dân đen mỗi hộ sáu thạch gạo, hai con dê.
Thủy Hoàng cải trang vi hành trong Hàm Dương, cùng bốn võ sĩ ra ngoài ban đêm, gặp cướp ở Lan Trì, lâm vào nguy khốn. Võ sĩ giết cướp. Trong Quan Trung đại tra hai mươi ngày. Gạo tiêu tốn một ngàn sáu trăm thạch.
Năm thứ ba mươi hai, Thủy Hoàng đến đất Kết Thạch, sai người Yên là Lư Sinh tìm các vị tiên như Diên Môn, Cao Thệ. Khắc bia tại cửa Kết Thạch.
Phá hủy thành quách, mở rộng đê điều. Văn khắc rằng:
“Phát binh dẹp loạn, giết bọn vô đạo, diệt kẻ phản nghịch. Dẹp sạch bạo ngược, tha cho người vô tội, lòng người đều phục. Bàn công luận lộc, thưởng cho cả trâu ngựa, ơn rải khắp châu quận.
Hoàng đế giương oai, đức bao trùm chư hầu, nhất thống thái bình. Phá đổ thành quách, mở thông sông ngòi, san bằng hiểm trở. Địa thế ổn định, dân đen khỏi nhọc, thiên hạ an ninh. Nam lo ruộng vườn, nữ chăm nghề nghiệp, mọi việc có trật tự. Ơn đến sản vật, người đến khai khẩn, ai nấy yên ổn nơi mình. Quần thần tụng công, xin khắc đá này, lưu truyền phép tắc.”
Lại sai Hàn Chung, Hầu Công, Thạch Sinh đi tìm tiên nhân và thuốc trường sinh bất tử.
Thủy Hoàng tuần du phía Bắc, từ Thượng Quận tiến vào. Người Yên là Lư Sinh từ biển trở về, viện cớ sự thần quỷ, tâu rằng xem trong sách vẽ có nói: “Kẻ diệt nước Tần là Hồ.”
Vua Tần bèn sai tướng quân Mông Điềm đem ba mươi vạn binh đánh Hồ phương Bắc, chiếm đất phía nam sông Hoàng.
Năm thứ ba mươi ba, chiêu mộ bọn người từng chạy trốn, phu cưới, thương nhân… đem quân chiếm vùng Lục Lương, lập ra quận Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, sai đến giữ đất. Tây Bắc đẩy lui Hung Nô. Từ Dư Trung men theo sông Hoàng về phía Đông, đến dãy Âm Sơn, đặt làm ba mươi bốn huyện, xây thành lũy ở thượng nguồn sông làm phòng tuyến. Lại sai Mông Điềm vượt sông, chiếm các nơi Ban Quyết, Dương Sơn, Bắc Giả Trung, xây trạm gác xua đuổi người Nhung. Đày tội nhân đến ở đất mới lập. Cấm không cho tế tự. Sao Minh Tinh xuất hiện ở phương Tây.
Năm thứ ba mươi tư, xét xử các ngục quan bất chính, bắt họ xây Vạn Lý Trường Thành và khai phá đất Nam Việt.
Thủy Hoàng thiết yến tại cung Hàm Dương, bảy mươi vị bác sĩ ra trước chúc thọ. Phụ xạ Chu Thanh Thần dâng lời tụng rằng:
“Xưa đất Tần chỉ rộng ngàn dặm, nay nhờ thánh thần anh minh của bệ hạ, đã bình định thiên hạ, đuổi trừ Man Di, nơi mặt trời mặt trăng chiếu đến, không ai không quy phục. Chư hầu đều thành quận huyện, người người an cư lạc nghiệp, chẳng lo binh họa, có thể truyền lâu dài đến muôn đời. Từ xưa chưa ai bằng uy đức của bệ hạ.”
Thủy Hoàng nghe, rất vui.
Bác sĩ nước Tề là Thuần Vu Việt tiến lên nói:
“Thần nghe: nhà Ân nhà Chu trị nước hơn ngàn năm, đều phong con cháu và công thần, làm rường cột cho triều đình. Nay bệ hạ làm chủ thiên hạ, mà con cháu chỉ là thứ dân. Lỡ có giặc như Điền Thường hoặc lục khanh ngày xưa, không có thân thích giúp đỡ, lấy ai mà cứu nhau? Việc không theo cổ, mà mong lâu dài, thần chưa từng nghe. Nay Chu Thanh Thần lại mặt trước a dua, càng làm bệ hạ sai thêm, không phải là trung thần vậy.”
Thủy Hoàng hạ lệnh cho các quan nghị bàn.
Thừa tướng Lý Tư tâu:
“Ngũ Đế chẳng kế tục nhau, Tam Đại cũng không nối tiếp, ai nấy có cách cai trị riêng, bởi thời thế đổi khác. Nay bệ hạ khởi dựng đại nghiệp, lập công muôn đời, lẽ nào thứ nho sĩ hủ lậu như Thuần Vu Việt có thể hiểu nổi! Huống chi ông ta nhắc lại chuyện Tam Đại, có gì đáng làm khuôn mẫu? Xưa chư hầu tranh giành, chuộng việc chiêu nạp học giả du thuyết. Nay thiên hạ đã định, pháp lệnh một mối, dân thì chăm nông công, sĩ thì học pháp luật.
Nay các sinh đồ chẳng học thời nay mà lại ôm cổ học, lấy đó chỉ trích hiện tại, làm nhiễu loạn dân đen. Thừa tướng thần xin liều chết mà nói: Xưa thiên hạ phân tán, không ai thống nhất, nên chư hầu nổi lên, lời nói đều viện cổ để hại nay, tô vẽ lời hư mà loạn sự thực. Ai nấy theo học riêng mình, phản đối điều vua lập. Khi nghe chiếu chỉ thì lấy học phái mình mà bàn, trong lòng trái ngược, ngoài miệng thì phao đồn, khoe mình trước vua, tranh danh bằng dị luận, dắt dẫn kẻ dưới mà sinh ra phỉ báng. Nếu không cấm, thế vua sẽ bị lấn lướt từ trên, bè đảng sẽ nổi dậy từ dưới. Nên nghiêm cấm là phải.
Thần xin: Những sử quan nào không chép sử nước Tần thì đều thiêu hủy. Những ai không làm bác sĩ triều đình mà trong thiên hạ còn giữ sách Thi, Thư, trăm nhà ngôn luận, đều phải nộp cho quan Thủ hoặc Úy mà cùng thiêu. Ai dám nói đến Thi, Thư mà trái lẽ sẽ bị xử ngoài chợ. Ai dùng cổ để chê nay thì diệt cả họ. Quan lại biết mà không báo thì đồng tội. Lệnh ban ra ba mươi ngày không đốt thì bị xăm mặt, sung làm lính đồn thú. Chỉ giữ lại sách y dược, bói toán, trồng trọt. Ai muốn học pháp luật thì lấy quan lại làm thầy.”
Chiếu rằng: “Chuẩn.”
Năm thứ ba mươi lăm, mở đường từ Cửu Nguyên đến Vân Dương, đào núi lấp suối, đi thẳng không ngoặt.
Thủy Hoàng thấy dân Hàm Dương đông, cung điện tổ tiên lại hẹp, bèn nói:
“Ta nghe Văn Vương ở đất Phong, Vũ Vương ở đất Hạo, giữa Phong – Hạo là nơi đế vương trị nước.”
Bèn xây cung triều tại vườn Thượng Lâm phía nam sông Vị. Trước tiên xây tiền điện A Phòng, đông tây năm trăm bộ, nam bắc năm mươi trượng, trên có thể ngồi một vạn người, dưới có thể dựng cờ năm trượng. Bốn phía hành lang dài chạy quanh, từ điện kéo thẳng đến Nam Sơn. Lấy đỉnh núi làm Khuyết (cửa cung). Lại làm đường trên không từ A Phòng vượt sông Vị nối vào Hàm Dương, tượng trưng cho “các đạo chạm cực trời, nối liền doanh thất” trên trời.
Cung A Phòng chưa thành, dự định sau sẽ chọn tên tốt đẹp mà đặt tên. Do khởi công gọi là cung A Phòng, nên đời sau đều gọi như vậy.
Tội nhân lưu đày đến hơn bảy mươi vạn người, chia ra xây cung A Phòng và lăng Lệ Sơn. Đá từ núi Bắc vận về, gỗ quý từ đất Thục và Sở đều đưa tới. Đếm trong Quan Trung có ba trăm cung điện, ngoài Quan có hơn bốn trăm.
Lập đá ở bờ biển Đông, trong địa phận đất Khư, làm “Đông môn của Tần”. Dời ba vạn hộ đến ấp Lệ, năm vạn hộ đến Vân Dương, đều miễn sưu thuế mười năm.
Lư Sinh tâu với Thủy Hoàng:
“Bọn thần tìm tiên, thuốc trường sinh, phần nhiều không gặp, vì có loại vật quấy nhiễu. Trong phép Đạo, bậc quân chủ nên thường cải trang vi hành để xua tà quỷ. Tà quỷ tránh đi, thì chân nhân mới hiện. Nếu nơi vua ở mà bị kẻ bề tôi biết đến thì thần khí bị tổn hại. Chân nhân thì vào nước không ướt, vào lửa không cháy, cưỡi mây khí, cùng trời đất lâu bền. Nay bệ hạ trị thiên hạ, lòng chưa yên tĩnh, xin chốn ở của bệ hạ không để ai biết, may ra có thể được thuốc trường sinh.”
Thủy Hoàng nói:
“Ta ngưỡng mộ bậc chân nhân, từ nay tự xưng là ‘Chân nhân’, không xưng ‘Trẫm’ nữa.”
Liền ra lệnh: trong vòng hai trăm dặm quanh Hàm Dương, xây hai trăm bảy mươi cung điện, đường hành lang liên thông, màn rèm chuông trống mỹ nhân đầy đủ, ai nấy đều giữ chức tại chỗ, không được chuyển đổi.
Nơi vua đến mà ai nói ra thì xử tử.
Vua ngự cung Lương Sơn, từ trên núi trông thấy đoàn xa giá của thừa tướng quá nhiều, không hài lòng. Có người hầu tiết lộ, thừa tướng sau đó giảm quy mô. Vua tức giận nói: “Tên hầu đó tiết lộ lời ta.”
Ra lệnh điều tra, ai nấy không nhận. Bèn bắt tất cả người có mặt khi ấy, giết hết. Từ đó về sau không ai biết hành tung của vua. Việc triều chính đều tiếp tại cung Hàm Dương.
Hầu Sinh và Lư Sinh bàn nhau:
“Thủy Hoàng thiên tính cứng rắn, độc đoán. Khởi lên từ chư hầu, thống nhất thiên hạ, muốn làm theo ý mình, tưởng mình vượt cổ nhân. Chuyên dùng ngục lại, những người làm việc hình pháp được sủng ái. Bác sĩ bảy mươi người, chỉ có tiếng chứ chẳng được dùng. Thừa tướng và đại thần đều phải vâng mệnh, không dám trái. Vua vui lấy hình phạt làm uy, thiên hạ sợ tội mà giữ địa vị, không ai dám tận trung. Trên không nghe lời can, càng ngày càng kiêu. Dưới e sợ, nịnh bợ để được yên thân.
Pháp nước Tần không cho kết hợp nhiều học phái, nếu nghiệm sai thì chết. Nhưng người xem thiên văn hơn ba trăm, đều là sĩ tử lương thiện, nhưng sợ phạm húy mà không dám nói thật. Việc lớn nhỏ đều do vua quyết, đến mức dùng cân đo để định việc, ngày đêm tiếp kiến, không trình xong thì không được nghỉ. Ham mê quyền lực đến thế, chưa phải là lúc thích hợp để cầu tiên dược.”
Bèn bỏ trốn.
Thủy Hoàng nghe tin, nổi giận:
“Trẫm từng thu thập các sách vô dụng thiên hạ đem đốt sạch. Triệu tập bao nhiêu học giả, thuật sĩ, mong dựng Thái Bình, bọn phương sĩ thì giả dối cầu lợi, ngày càng nhiều lời tố nhau. Lư Sinh được ta ưu đãi, nay lại phỉ báng, khiến ta bị thêm tai tiếng. Các sinh đồ ở Hàm Dương, ta cho người tra xét, có kẻ đặt lời đồn loạn dân.”
Sai ngự sử điều tra, bọn sinh đồ chỉ nhau ra, ai phạm cấm lệnh hơn bốn trăm sáu mươi người, đều bị chôn sống ở Hàm Dương, cho thiên hạ biết để răn sau. Lại đày người đến biên thùy.
Trưởng tử là Phù Tô can gián:
“Thiên hạ mới định, dân xa chưa phục, các sinh đồ đều học đạo Khổng, nay bệ hạ dùng luật nghiêm để trừng trị, thần e thiên hạ sẽ bất an. Xin bệ hạ xét lại.”
Vua giận, sai Phù Tô đi giám sát Mông Điềm ở Thượng Quận.
Năm thứ ba mươi sáu, sao Huỳnh Hoặc nhập sao Tâm (điềm dữ). Có sao rơi xuống quận Đông, rơi xuống hóa thành đá. Có kẻ khắc đá ấy rằng: “Thủy Hoàng chết thì đất chia.”
Vua nghe, sai ngự sử tra hỏi, không ai nhận, bèn giết sạch dân quanh đó, thiêu đá luôn.
Vua không vui, sai bác sĩ làm thơ ca tụng chân nhân, cùng hành trình tuần du khắp thiên hạ, truyền cho nhạc công đàn hát. Mùa thu, sứ giả từ Quán Đông đi đêm qua Hoa Âm, đường Bình Thư, gặp một người cầm ngọc bích chắn đường, nói: “Xin gửi cho Hạo Trì Quân”, rồi nói rằng: “Năm nay Tổ Long chết.” Hỏi thì bỗng biến mất, bỏ lại ngọc bích.
Sứ giả đem về trình báo. Vua im lặng hồi lâu, rồi nói:
“Yêu quái núi rừng chỉ biết chuyện một năm.”
Lại nói: “Tổ Long là tổ tiên của người đời.” Sai kiểm tra trong kho, thì chính là ngọc bích vua từng thả xuống sông khi vượt Giang năm thứ hai mươi tám.
Vua xem bói, được quẻ “du tẩu thì cát”. Bèn dời ba vạn hộ đến đất Dư Trung phía Bắc sông Hoàng, ban thưởng tước một cấp.
Năm thứ ba mươi bảy, tháng mười, ngày Quý Sửu, Thủy Hoàng lại xuất du. Tả thừa tướng Lý Tư theo hầu, hữu thừa tướng Phùng Khứ Tật ở lại trông coi triều chính. Con út là Hồ Hợi ưa thích chuyến đi, xin đi theo, vua bằng lòng.
Tháng mười một, đoàn đến đất Vân Mộng, nhìn về hướng Cửu Nghi mà tế Thuấn Đế. Thuyền xuôi dòng Trường Giang, xem rừng Tịch Kha, vượt biển Trử. Qua Đan Dương, đến Tiền Đường. Lúc đến sông Chiết Giang, nước động dữ dội, bèn đi vòng sang phía tây một trăm hai mươi dặm, qua chỗ hẹp mà vượt sông. Lên núi Hội Kê, tế Đại Vũ, trông ra biển Nam, rồi dựng bia đá ca tụng công đức nhà Tần.
Văn khắc rằng:
**“Hoàng đế đại huệ, bình định thiên hạ, ân đức lâu dài. Năm thứ ba mươi bảy, thân tuần thiên hạ, xem xét bốn phương. Lên núi Hội Kê, truyền xét phong tục, dân đen trai giới kính cẩn. Quần thần tụng công, truy gốc sự nghiệp, ngưỡng vọng ánh sáng. Tần Thánh cai trị, khởi định hình danh, nêu rõ chế độ cũ. Đặt ra pháp luật, phân minh chức vụ, lập thành thường chế. Lục quốc chuyên quyền, tham tàn kiêu bạo, ỷ thế tự cường. Ngạo mạn bạo ngược, thường động binh binh, ngầm sai sứ giả, mưu hợp tung hoành, gây loạn biên cương. Nay lấy uy nghĩa mà trừng phạt, diệt sạch bạo nghịch, lũ loạn tặc tiêu diệt.
Thánh đức lan rộng, trong sáu hợp đều thọ ơn. Hoàng đế thống nhất thiên hạ, nghe xét vạn sự, gần xa đều rõ. Cai trị vạn vật, khảo chứng thực tình, sự việc đều có tên gọi. Sang hèn đều thông, thiện ác đều được trình bày, không điều gì che giấu. Lễ nghĩa được tuyên bố, nếu con gái đã có chồng mà lại tái gả, thì coi như bất trinh, xử tử không tội. Đàn ông giữ nghi lễ, vợ bỏ trốn tái giá, con không nhận mẹ, đều hóa thành liêm chính. Cải hóa phong tục, thiên hạ thuận theo, ai nấy đều yên vui. Mọi người tu sửa, hòa thuận chăm chỉ, không ai trái lệnh. Dân đen chỉnh tề, người người vui lòng tuân pháp, giữ vững thái bình. Hậu nhân kính theo pháp, trị mãi không dứt, xe thuyền không nghiêng. Quần thần tụng công, xin khắc vào đá, lưu mãi danh thơm.”**
Đoàn trở về qua đất Ngô, vượt sông tại Giang Thừa. Men theo bờ biển phía Bắc đến Lãng Tà. Phương sĩ Từ Thị cùng đồng bọn vào biển tìm thuốc tiên, nhiều năm không được, tốn kém nhiều, sợ bị trách tội, bèn bịa rằng:
“Thuốc ở núi Bồng Lai có thể lấy được, nhưng thường bị cá kình to quấy nhiễu, nên chưa đến nơi. Xin cho người giỏi bắn cung cùng đi, thấy thì dùng nỏ liên châu mà bắn.”
Thủy Hoàng mộng thấy đánh nhau với thần biển, hình dạng như người. Hỏi mộng, bác sĩ thưa:
“Thủy thần không thể thấy, lấy cá lớn, rồng làm dấu. Nay bệ hạ tế tự nghiêm cẩn mà lại gặp ác thần, nên trừ bỏ, thì thiện thần mới đến.”
Vua liền sai người mang theo dụng cụ bắt cá lớn, đích thân cầm nỏ chờ bắn. Từ Lãng Tà bắc đến núi Vinh Thành, không thấy. Đến núi Chi Phù, thấy cá lớn, vua bắn chết một con. Sau đó đi dọc bờ biển phía tây.
Đến đất Bình Nguyên Tân thì mắc bệnh. Vua ghét nói chuyện chết chóc, nên các đại thần không ai dám nhắc đến. Bệnh càng nặng, vua soạn chiếu thư ban cho Phù Tô:
“Về Hàm Dương để dự tang lễ và an táng.”
Chiếu đã viết, niêm phong, trao cho Trung xa phủ lệnh là Triệu Cao giữ, chưa kịp giao cho sứ giả.
Ngày Bính Dần tháng bảy, Thủy Hoàng băng hà tại đài Bình Đài đất Sa Khâu.
Thừa tướng Lý Tư thấy vua băng hà nơi ngoài thành, sợ các công tử và thiên hạ sinh biến, bèn giấu kín, chưa phát tang. Quan tài để trong xe ôn lương, vẫn cho hoạn quan theo xe, đến đâu thì ban ăn như thường. Trăm quan dâng tấu như cũ, hoạn quan từ trong xe đáp lại là chấp thuận. Chỉ có Hồ Hợi, Triệu Cao và vài hoạn quan thân tín biết vua đã chết.
Triệu Cao vốn dạy Hồ Hợi viết chữ, hiểu luật hình pháp, được sủng ái riêng. Bèn cùng Hồ Hợi và Lý Tư mưu kế, hủy bỏ chiếu thư ban cho Phù Tô, giả làm chiếu mới do Lý Tư nhận tại Sa Khâu, lập Hồ Hợi làm Thái tử. Lại làm chiếu mắng Phù Tô và Mông Điềm, ban cho chết. Chuyện này chép đầy đủ trong Lý Tư liệt truyện.
Đoàn đi theo đường Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên. Gặp lúc trời nóng, xe ôn lương bốc mùi, bèn ra lệnh cho quan theo hầu chở theo một hũ cá ươn, để che mùi thối.
Đi theo đường thẳng về đến Hàm Dương, mới phát tang.
Thái tử Hồ Hợi lên ngôi, xưng là Nhị Thế Hoàng Đế.
Tháng chín, an táng Thủy Hoàng tại Lệ Sơn.
Thủy Hoàng từ lúc mới lên ngôi đã đào núi Lệ Sơn làm lăng. Đến khi thiên hạ quy về, bắt tù nhân hơn bảy mươi vạn người đến xây dựng. Đào sâu ba tầng mạch nước, đúc đồng làm quách. Trong lăng dựng cung điện, quan lại, trân bảo dị vật đều đưa vào. Sai thợ làm máy nỏ, ai đến gần liền bị bắn. Dùng thủy ngân làm các sông lớn biển cả, cơ quan ngầm chảy luân chuyển. Trên vẽ trời, dưới vẽ đất. Dùng mỡ cá nhân ngư làm đèn, cháy mãi không tắt.
Nhị Thế nói: “Hậu cung tiên đế ai không sinh con, ra ngoài không thích hợp.” Bèn lệnh cho chôn sống tất cả, số chết rất nhiều.
Lăng hoàn thành, có người nói thợ biết máy ngầm, lại biết chỗ giấu của. Sợ tiết lộ, sau khi chôn xong, đóng cửa trung huyệt, rồi cửa ngoài, cho chôn sống thợ, không ai được ra. Trồng cây cỏ trên mộ, cho giống núi tự nhiên.
Năm đầu Nhị Thế, ông hai mươi mốt tuổi. Triệu Cao làm Lang trung lệnh, nắm hết việc triều chính.
Nhị Thế ra chiếu tăng cúng tế tổ miếu Thủy Hoàng và tế sông núi.
Ra lệnh cho quần thần bàn việc tôn kính tổ miếu Thủy Hoàng. Mọi người dập đầu tâu:
“Xưa thiên tử có bảy miếu, chư hầu năm, đại phu ba, dù trải muôn đời cũng không bỏ. Nay miếu Thủy Hoàng là cực miếu, bốn biển đều cống phẩm, lễ vật sung túc, không thể thêm. Miếu các tiên vương có cái ở Ung, có cái ở Hàm Dương. Lễ thiên tử chỉ cần tế riêng tổ miếu Thủy Hoàng là đủ. Từ Tần Tương Công trở xuống, miếu đều đã mất. Nay có bảy miếu, thần xin dùng lễ mà tiến cúng, lấy miếu Thủy Hoàng làm tổ miếu của các đế.”
Nhị Thế lại tự xưng là “Trẫm”.
Nhị Thế cùng Triệu Cao bàn:
“Trẫm tuổi trẻ, mới lên ngôi, dân đen chưa quy phục. Tiên đế từng tuần du quận huyện để phô uy, khiến thiên hạ sợ phục. Nay nếu ở mãi không đi, thì thiên hạ sẽ cho là yếu, không thể trị dân.”
Mùa xuân, Nhị Thế đông hành thị sát quận huyện, Lý Tư theo hầu. Đến Kết Thạch, men theo bờ biển, xuôi về nam đến Hội Kê. Khắc lại toàn bộ bia đá mà Thủy Hoàng từng lập, bên cạnh ghi tên đại thần đi theo, để hiển dương công đức và sự nghiệp rực rỡ của Tiên đế.
Hoàng đế nói:
“Các bia đá đều do Thủy Hoàng lập. Nay ta nối ngôi, mà văn bia không xưng Thủy Hoàng, sau này truyền lâu dài sẽ giống như đời sau tự lập, không tôn được công đức của tiên đế.”
Thừa tướng Lý Tư, Phùng Khứ Tật, ngự sử đại phu Đắc liền dập đầu tâu:
“Thần xin khắc đủ chiếu thư và văn bia, như vậy sẽ sáng rõ.”
Chiếu rằng: “Chuẩn.”
Sau đó, [Tần Nhị Thế] đến Liêu Đông rồi quay trở về.
Khi ấy, Nhị Thế thuận theo lời Triệu Cao, gia tăng hà khắc pháp lệnh. Ngầm bàn với Triệu Cao rằng:
“Các đại thần không phục, quan lại còn ngang ngược, các công tử tất sẽ tranh đoạt với trẫm, phải làm sao đây?”
Triệu Cao tâu rằng:
“Thần vốn đã muốn tâu bày từ lâu, chỉ là chưa dám mở miệng. Đại thần dưới thời tiên đế, đều là danh gia vọng tộc truyền nối qua đời, công lao tích tụ đã lâu. Nay hạ thần vốn xuất thân tiện hèn, nhờ ơn bệ hạ cất nhắc mới được giữ địa vị cao, trông coi việc trong cung. Các đại thần ngoài mặt thuận theo hạ thần, nhưng trong tâm chẳng hề phục. Nay thượng hoàng đi xa, nên nhân cơ hội này xét tội các thủ trưởng quận huyện có lỗi, trừng trị để chấn động thiên hạ, dẹp trừ những kẻ tiên đế từng bất mãn. Ngày nay không phải lúc dùng văn đức, mà là lấy võ lực làm trọng. Nguyện bệ hạ thuận theo thời thế, đừng do dự. Như thế, các đại thần sẽ chẳng còn cơ hội bàn bạc gì nữa. Bậc minh quân là phải nâng đỡ kẻ còn sót, cất nhắc kẻ hèn, làm giàu kẻ nghèo, kêu gọi người ở xa về gần – như thế trên dưới sẽ quy thuận, quốc gia sẽ vững yên.”
Nhị Thế khen hay, bèn thi hành chính sách giết hại đại thần và các công tử. Những ai bị liên lụy đều là thân tín, không ai được giữ chức, sáu người con trai của tiên đế bị giết tại Đỗ. Công tử Tương Lư cùng hai người em bị giam trong cung, tội trạng được xét sau cùng.
Nhị Thế sai sứ đến báo với Tương Lư:
“Công tử không thần phục, tội đáng chết. Quan lại sẽ thi hành pháp lệnh.”
Tương Lư nói:
“Lễ nghi trong triều, thần chưa từng dám lơi lỏng đón tiếp. Nơi miếu đường, chưa từng thất tiết. Khi tiếp chỉ, chưa từng sơ suất lời đáp. Cớ sao lại nói thần bất trung? Xin được biết tội mà chết.”
Sứ đáp:
“Thần không được quyền nghị luận, chỉ tuân theo chiếu chỉ mà hành sự.”
Tương Lư ngửa mặt lên trời than ba tiếng “Trời ơi!”, nói: “Trời hỡi, ta vô tội!”, rồi ba huynh đệ đều rơi lệ, rút kiếm tự vẫn.
Tông thất chấn kinh. Quần thần ai can gián đều bị quy là phỉ báng. Các quan lớn vì tham lộc cầu an. Dân chúng thì hoảng sợ vô cùng.
Tháng Tư, Nhị Thế trở về Hàm Dương, nói:
“Tiên đế cho rằng cung đình Hàm Dương quá hẹp, nên dựng cung A Phòng làm nơi chính điện. Nay việc chưa thành thì người đã băng, công trình đình chỉ, nhân lực chuyển về Lịch Sơn. Việc Lịch Sơn đã hoàn tất, nay bỏ dở cung A Phòng thì chẳng khác nào làm lộ ra tiên đế khởi sự mà bất thành.”
Vì thế phục hồi công trình A Phòng. Bên ngoài vẫn giao hảo với chư di như thời Thủy Hoàng. Trưng dụng năm vạn tráng đinh đến đóng quân bảo vệ Hàm Dương, dạy họ săn bắn chó, ngựa, chim muông. Lượng người ăn quá đông, lương thực không đủ, buộc các quận huyện phải vận chuyển lương thảo, tất cả phải tự mang theo lương thực, không được dùng thóc gạo trong vòng 300 dặm quanh Hàm Dương. Pháp lệnh ngày càng hà khắc.
Tháng Bảy, binh lính đồn trú là Trần Thắng cùng đồng bọn nổi dậy ở đất Sở cũ, lập nước “Trương Sở”. Trần Thắng xưng Vương đất Sở, đóng đô tại Trần, sai tướng đi chiếm các địa phương.
Tuổi trẻ các quận huyện Sơn Đông khổ vì quan Tần, đều giết thủ trưởng của mình mà hưởng ứng Trần Thắng, tự lập làm hầu vương, cùng nhau tiến về phía Tây, xưng là “đánh Tần”, đông không kể xiết.
Sứ giả từ phương Đông về báo việc nổi loạn với Nhị Thế. Nhị Thế giận, giao cho quan xử lý. Sau lại có sứ khác đến, vua hỏi, đáp rằng:
“Đó chỉ là bọn cướp, quan lại địa phương đang bắt giữ, sẽ sớm tiêu trừ, không đáng lo.”
Vua mừng.
Trong khi đó, Vũ Thần xưng Vương đất Triệu, Ngụy Cữu xưng Vương đất Ngụy, Điền Đam xưng Vương đất Tề. Hán Vương khởi nghĩa ở đất Bái. Hạng Lương nổi dậy tại Quận Cối Kê.
Năm thứ hai, mùa đông, Châu Chương – tướng của Trần Thắng – đem quân mấy chục vạn kéo đến đất Hí. Nhị Thế kinh hoảng, hỏi kế quần thần. Thiếu phủ Chương Hàm nói:
“Giặc đã đến, quân đông, không kịp điều quân các nơi gần. Nay tù nhân ở Lịch Sơn rất đông, xin đại xá, phát vũ khí, dùng làm binh lính đánh giặc.”
Nhị Thế bèn đại xá thiên hạ, sai Chương Hàm làm tướng. Chương Hàm đánh tan quân Châu Chương, giết tướng Trương Tào Dương. Nhị Thế lại sai Trưởng sử Tư Mã Hân, Đổng Ấp trợ chiến, giết Trần Thắng ở Thành Phụ, phá Hạng Lương tại Định Đào, diệt Ngụy Cữu ở Lâm Tế. Tướng giặc ở đất Sở đều chết. Chương Hàm bèn vượt Hoàng Hà, đánh Triệu Vương Tiết tại Cự Lộc.
Triệu Cao khuyên Nhị Thế rằng:
“Tiên đế nắm quyền lâu năm, nên quần thần không dám trái. Nay bệ hạ còn trẻ, vừa lên ngôi, sao lại cùng công khanh bàn việc triều chính? Lỡ làm sai, há chẳng bị xem thường? Thiên tử xưng ‘Trẫm’, vốn không cần nghe tiếng người khác.”
Vì thế, Nhị Thế thường ở sâu trong cung cấm, mọi việc do Triệu Cao quyết. Về sau, công khanh hiếm khi được chầu, giặc cướp ngày càng nhiều. Quan Trung liên tiếp điều binh về phương Đông dẹp giặc, không dứt.
Hữu thừa tướng Khứ Tật, tả thừa tướng Lý Tư, tướng quân Phùng Kiếp dâng sớ can rằng:
“Giặc các nơi Đông Quan cùng nổi dậy. Triều đình điều binh trấn áp, số bị giết và bỏ mạng rất đông, nhưng vẫn chưa yên. Nguyên nhân vì binh lính bị bắt phu dịch vận chuyển, thuế má nặng nề. Xin hãy ngừng xây cung A Phòng, giảm trừ việc phu dịch các nơi.”
Nhị Thế đáp:
“Ta từng nghe Hàn Phi Tử nói: ‘Nghèo như Nghiêu Thuấn, ăn đất nặn, ở cỏ tranh, còn không bằng kẻ gác cổng. Vũ đào Long Môn, xả nước lớn, tay cầm cuốc, đến nỗi trụi chân, thân khổ vô cùng, kẻ nô lệ cũng chẳng tệ hơn.’ Vậy thì bậc chí tôn thống trị thiên hạ, cần phải phóng túng thỏa chí. Trên nêu pháp nghiêm minh, dưới chẳng dám trái, thì thiên hạ sẽ quy phục. Các bậc đế vương xưa, thân làm nô lệ để làm vừa lòng bách tính, còn gì là uy nghi quân vương? Trẫm là bậc vạn thặng, sao có thể chịu như vậy? Trẫm muốn lập vạn thặng xa mã, vạn vạn cung thất, để xứng danh xưng hiệu. Tiên đế khởi nghĩa từ chư hầu, thống nhất thiên hạ, đã yên biên cương, dẹp chư di, xây cung điện biểu lộ chí khí, khanh hãy xem thành quả đó ra sao. Nay trẫm mới trị vì hai năm, giặc giã khắp nơi, khanh chẳng thể ngăn chặn, lại còn muốn hủy bỏ việc tiên đế làm, thế là bất trung với tiên đế, bất tận tâm với trẫm, còn mặt mũi nào giữ chức?”
Bèn giao Khứ Tật, Lý Tư, Phùng Kiếp cho quan pháp xử tội. Khứ Tật, Phùng Kiếp nói: “Tướng quốc không chịu nhục.” rồi tự sát. Lý Tư bị cầm tù, chịu đủ năm hình.
Năm thứ ba, Chương Hàm vây Cự Lộc. Đại tướng nước Sở là Hạng Vũ đem quân cứu. Mùa đông, Triệu Cao làm tể tướng, bắt Lý Tư xử tử. Mùa hạ, Chương Hàm liên tiếp thất trận. Nhị Thế sai người đến quở trách, Chương Hàm sợ, sai Trưởng sử Tư Mã Hân xin giãi bày. Triệu Cao không tiếp, cũng không tin. Hân sợ, bỏ trốn. Cao sai người đuổi theo, không kịp. Hân về báo với Chương Hàm:
“Triệu Cao nắm quyền trong cung, tướng quân dù có công cũng bị giết, không công cũng bị giết.”
Hạng Vũ dốc sức công phá quân Tần, bắt Vương Ly. Chương Hàm bèn đem quân đầu hàng chư hầu.
Tháng Tám, ngày Kỷ Hợi, Triệu Cao muốn làm loạn, sợ quần thần không nghe, bèn thử trước. Cầm một con nai dâng Nhị Thế, nói:
“Ngựa đấy.”
Nhị Thế cười:
“Tể tướng lầm chăng? Sao lại bảo nai là ngựa?”
Hỏi các quan. Có người im lặng, có người thuận theo Triệu Cao nói là ngựa, có người dám nói là nai. Triệu Cao ngầm ghi tên những người nói “nai”, rồi dùng pháp xử tội. Từ đó, quần thần ai nấy đều sợ Triệu Cao.
Khi trước, Triệu Cao từng nhiều lần quả quyết: “Bọn đạo tặc phía đông Quan Trung không thể làm nên chuyện gì.” Nhưng đến khi Hạng Vũ bắt được tướng Tần là Vương Ly ở đất Cự Lộc, quân của Chương Hàm liên tiếp thất bại, dâng sớ xin tăng viện. Các nước Yên, Triệu, Tề, Sở, Hàn, Ngụy đều lần lượt lập vương, từ phía đông Quan Trung, đại khái đều phản lại quan Tần, hưởng ứng chư hầu. Các chư hầu đều dẫn binh hướng về phía Tây.
Lúc ấy, Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ) dẫn vài vạn binh lính đã phá Vũ Quan, sai người bí mật liên lạc với Triệu Cao. Cao sợ Nhị Thế nổi giận, lụy đến bản thân, nên giả vờ cáo bệnh, không vào triều.
Nhị Thế mộng thấy bạch hổ cắn ngựa bên trái của xe, giết nó, trong lòng bất an, lấy làm điềm lạ, bèn hỏi mộng. Thầy bói nói: “Do Thủy thần sông Kinh tác quái.” Nhị Thế liền trai giới tại cung Vọng Ỷ, muốn tế Thủy thần sông Kinh, dìm bốn con ngựa trắng xuống nước làm lễ.
Sai sứ quở trách Triệu Cao vì chuyện đạo tặc. Triệu Cao sợ hãi, bèn bí mật cùng con rể là Huyện lệnh Hàm Dương Diêm Nhạc, và em trai là Triệu Thành mưu rằng:
“Thượng quân không nghe can gián, nay thế cục nguy cấp, muốn đổ tội lên tông tộc ta. Ta muốn phế truất y, lập Công tử Anh thay thế. Công tử Anh nhân hậu tiết kiệm, được lòng bách tính.”
Họ sai Lang Trung Lệnh làm nội ứng, giả vờ có loạn tặc lớn, lệnh Diêm Nhạc gọi quan lại phát binh, rồi đột kích đưa mẹ mình đến trú tại nhà Triệu Cao.
Diêm Nhạc dẫn hơn ngàn binh lính đến cung Vọng Ỷ, trói giữ Vệ Lệnh và Phó Xạ, nói:
“Giặc đã xông vào đây, sao không ngăn?”
Vệ Lệnh nói:
“Quân canh gác chặt chẽ, sao lại có giặc vào cung?”
Diêm Nhạc lập tức chém chết Vệ Lệnh, rồi thẳng dẫn binh vào trong. Khi ấy bắn tên dọc đường, quan lang và hoạn quan kinh hoảng, người thì bỏ chạy, người thì chống cự, ai chống cự đều bị giết, chết mấy chục người.
Lang Trung Lệnh cùng Diêm Nhạc xông vào, bắn tên vào màn trướng của hoàng đế. Nhị Thế nổi giận, triệu gọi tả hữu, nhưng tả hữu ai cũng hoảng sợ, không dám chiến đấu. Bên cạnh chỉ có một hoạn quan dám ở lại hầu.
Nhị Thế lùi vào nội thất, nói với hoạn quan:
“Ngươi sao không sớm báo ta, khiến ta lâm cảnh này?”
Hoạn quan đáp:
“Thần không dám nói, nên còn sống đến nay. Nếu sớm nói, tất bị giết từ lâu, đâu còn đến hôm nay?”
Diêm Nhạc tiến đến trách Nhị Thế:
“Ngươi kiêu ngạo vô đạo, giết người bừa bãi, thiên hạ đều phản ngươi. Ngươi hãy lo liệu lấy thân!”
Nhị Thế hỏi:
“Có thể gặp Thừa tướng không?”
Diêm Nhạc đáp: “Không thể.”
Lại hỏi:
“Cho ta làm vương một quận, có được chăng?”
Không cho.
Lại hỏi:
“Cho ta làm vạn hộ hầu?”
Không cho.
Lại cầu:
“Cho ta làm dân thường, cùng vợ con làm dân đen như các công tử cũng được.”
Diêm Nhạc đáp:
“Thần phụng mệnh Thừa tướng, vì thiên hạ mà tru diệt ngươi. Dù ngươi nói gì, thần cũng không dám quyết.”
Rồi truyền binh tiến vào. Nhị Thế tự sát.
Diêm Nhạc trở về báo với Triệu Cao. Cao bèn triệu tập hết đại thần và các công tử, báo về việc đã giết Nhị Thế, nói:
“Tần xưa vốn là nước chư hầu, Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ nên xưng đế. Nay sáu nước phục hồi, đất Tần ngày một thu hẹp, vẫn xưng đế chỉ còn là danh hão, chẳng bằng phục lại hiệu xưng vương.”
Bèn lập cháu trai Nhị Thế là Công tử Anh làm Tần Vương, cho dân thường lo việc mai táng Nhị Thế ở vườn Duy Xuân phía nam Đỗ. Lệnh Công tử Anh trai giới, vào miếu tiếp nhận ngọc tỷ vương vị.
Sau năm ngày trai giới, Công tử Anh cùng hai con bàn rằng:
“Thừa tướng Triệu Cao giết Nhị Thế ở cung Vọng Ỷ, e rằng các đại thần sẽ tru diệt y, nên mới bày vờ lấy nghĩa lập ta. Ta nghe Triệu Cao đã kết ước với nước Sở, muốn tiêu diệt tông thất Tần để tự xưng vương ở Quan Trung. Nay y cho ta vào miếu, tức muốn nhân dịp ấy giết ta. Ta giả bệnh không đi, y ắt sẽ thân hành đến, khi đó giết y.”
Triệu Cao sai người triệu gọi Công tử Anh nhiều lần, y đều không đến. Quả nhiên Triệu Cao tự thân đến, nói:
“Tế miếu là việc trọng đại, vương sao không đi?”
Công tử Anh liền giết Triệu Cao ngay tại cung trai giới, tru di tam tộc nhà Cao, đem thi thể bêu ở Hàm Dương.
Công tử Anh làm Tần Vương được 46 ngày, thì tướng Sở là Lưu Bang phá quân Tần, vào Vũ Quan, đến Bạ Thượng. Sai người chiêu hàng Công tử Anh. Anh buộc cổ bằng dây thừng, cưỡi xe trắng kéo ngựa trắng, dâng ngọc tỷ và phù tín thiên tử, đầu hàng tại ven đường Ấp.
Lưu Bang tiến vào Hàm Dương, phong kín cung thất và kho tàng, rồi lui quân về Bạ Thượng.
Sau hơn một tháng, quân chư hầu kéo đến. Hạng Vũ làm thống soái, giết Công tử Anh cùng tông thất nhà Tần. Tàn sát Hàm Dương, đốt cung điện, bắt nữ nhân, chiếm của cải, các chư hầu cùng chia nhau.
Sau khi diệt Tần, chia đất làm ba nước: Ung Vương, Tắc Vương, Địch Vương, gọi là “Tam Tần”. Hạng Vũ xưng là Tây Sở Bá Vương, định việc phân phong thiên hạ, nhà Tần đến đây hoàn toàn diệt vong. Năm năm sau, thiên hạ về tay nhà Hán.
Thái sử công viết:
Tổ tiên nhà Tần là Bá Ế, từng lập công dưới thời Nghiêu Thuấn, được ban đất phong họ. Nhưng đến thời Hạ Thương thì suy vi. Đến lúc nhà Chu suy yếu, nước Tần mới nổi lên, đóng đô ở Tây Thùy. Từ Mục Công về sau dần dần thôn tính chư hầu, cuối cùng thành Tần Thủy Hoàng.
Tần Thủy Hoàng tự cho công lao vượt Ngũ Đế, đất đai rộng hơn Tam Vương, nên xấu hổ khi đem so sánh với họ. Quả thật lời Giả Sinh nhận định rất đúng!
Tần thôn tính hơn ba mươi quận phía Đông, tu sửa đồn ải, chiếm cứ hiểm yếu, nuôi quân canh giữ. Thế mà Trần Thắng chỉ dùng vài trăm quân lính đi đày, giơ tay hô lớn mà không cần cung kiếm, chỉ dùng cuốc xẻng, gậy gộc mà vung oai thiên hạ.
Quân Tần không giữ nổi ải, cửa ải không đóng, giáo dài không đâm, nỏ mạnh không bắn. Quân Sở tiến sâu đến Hồng Môn mà không vấp phải phòng tuyến nào. Chư hầu nổi dậy, hào kiệt tranh xưng. Chương Hàm dẫn ba quân đông đảo xuất chinh, rồi lại mưu phản chủ, đủ thấy lòng người trong triều đã mất.
Nếu Công tử Anh có chút tài năng, chọn được trợ tá trung bình, dù Sơn Đông có loạn, vẫn giữ được đất Tần, không đến nỗi tuyệt tự miếu thờ.
Đất Tần có sông núi hiểm yếu làm vách ngăn, bốn bề là thành lũy. Từ Mục Công đến Tần Vương, hơn hai mươi đời thường là hùng bá chư hầu. Há phải đời nào cũng có hiền tài chăng? Chẳng qua thế nước vốn mạnh.
Khi thiên hạ đồng lòng công phá Tần, lúc ấy người hiền tài đều có, tướng giỏi cũng có, nhưng vì địa thế hiểm trở nên khó tiến. Tần lại mở cửa dụ địch vào sâu, rốt cuộc bị diệt. Há là do thiếu trí lực sao? Chỉ là hình thế không thuận.
Tần là tiểu quốc mà nuốt các đại thành, canh giữ hiểm địa, dựa thế đóng binh, dựng lũy không đánh, đóng cửa ải, cầm giáo canh giữ. Chư hầu khởi nghĩa từ những kẻ áo vải, liên kết vì lợi ích, không có đức độ vương giả. Quan hệ chưa thân, lòng dân chưa thuận, tên là “diệt Tần” nhưng kỳ thực là vì lợi.
Nếu thấy khó đánh mà lui, ổn định dân sinh, chờ Tần suy yếu, rồi trợ giúp kẻ yếu, thì sẽ khiến chư hầu quy phục, không lo không được thiên hạ. Vậy mà quý vị làm vua, giàu có thiên hạ, cuối cùng lại thành tù nhân – ấy là vì không biết sửa lỗi.
Tần Vương tự mãn, không nghe lời can, nên tiếp tục sai lầm. Nhị Thế tiếp nối, không sửa đổi, tàn bạo càng thêm, tai họa càng nặng. Công tử Anh cô độc không chỗ nương, yếu thế không người giúp – ba đời mê muội, suốt đời không tỉnh, mất nước là chuyện tất nhiên.
Khi ấy chẳng phải không có bậc trí sĩ thâm cơ, nhưng vì luật lệ Tần khắc nghiệt, lời trung chưa kịp thốt đã mất mạng. Cho nên sĩ phu thiên hạ ai cũng chỉ biết nghe ngóng, rụt rè dè dặt, bịt miệng không dám nói. Thế nên ba đời mất đạo, trung thần không dám can, trí sĩ không dám mưu, thiên hạ loạn lạc, mà gian thần không bị dẹp – há chẳng xót xa sao?
Tiên vương xưa hiểu rằng sự bế tắc do bưng bít ý kiến sẽ hại nước, nên đặt ra quan chế để chỉnh pháp, đặt hình luật, thiên hạ mới trị. Khi hưng thịnh thì cấm bạo trừng loạn, thiên hạ phục tùng; khi suy yếu, Ngũ Bá vẫn có thể hiệu triệu, chư hầu quy phục; khi bại vong, trong thì thủ vững, ngoài thì liên kết, xã tắc vẫn còn. Cho nên nhà Chu năm đời giữ đạo, nghìn năm không dứt. Nhà Tần đầu cuối đều sai, nên không thể dài lâu. Nhìn từ đó, đạo lý thịnh suy thật xa vời thay!
Tục ngữ có câu: “Chớ quên chuyện cũ, để dạy chuyện sau.” Vậy nên người quân tử trị quốc phải quan sát thời thượng cổ, nghiệm thời hiện tại, kết hợp nhân sự, xét lý thịnh suy, cân nhắc thế lực, tiến thoái hữu đạo, biến hóa đúng thời – thì dù lâu dài, xã tắc vẫn yên.
Tần Hiếu công chiếm cứ vùng hiểm trở Hàm Cốc, giữ đất Ung Châu, vua tôi đồng lòng thủ vững, dòm ngó triều Chu, ôm chí quét sạch thiên hạ, gom cả vũ trụ, bao trùm tứ hải, thôn tính tám phương. Khi ấy có Thương Quân giúp đỡ, bên trong thì lập ra pháp độ, chuyên cần canh cửi, tu sửa việc phòng thủ và chinh chiến; bên ngoài thì liên kết ngang dọc, giao chiến với chư hầu, nhờ đó mà người Tần chỉ việc khoanh tay mà lấy được đất phía ngoài Tây Hà.
Sau khi Hiếu công mất, Huệ vương và Vũ vương kế thừa nghiệp cũ, thuận theo sách lược đã định, phía nam chiếm Hán Trung, phía tây lấy Ba Thục, phía đông cắt đất màu mỡ, thu lấy các quận hiểm yếu. Chư hầu kinh sợ, hội nhau kết minh để làm suy yếu nước Tần, không tiếc vật báu quý giá, ngọc ngà, đất tốt, nhằm chiêu mộ hiền sĩ khắp thiên hạ, cùng nhau liên minh kết bạn, hợp thành một thể. Khi ấy, Tề có Mạnh Thường, Triệu có Bình Nguyên, Sở có Xuân Thân, Ngụy có Tín Lăng. Bốn vị công tử ấy đều là bậc minh triết, trung tín, khoan hậu, yêu người, trọng hiền đãi sĩ, kêu gọi liên minh chống lại Tần. Họ quy tụ người tài khắp Hàn, Ngụy, Yên, Sở, Tề, Triệu, Tống, Vệ, Trung Sơn.
Khi ấy, sĩ phu của Lục quốc có bọn Ninh Việt, Từ Thượng, Tô Tần, Đỗ Hách lo việc mưu lược; bọn Tề Minh, Chu Tối, Trần Chẩn, Chiêu Hoạt, Lâu Hoãn, Trịch Cảnh, Tô Lệ, Nhạc Nghị truyền đạt tư tưởng; bọn Ngô Khởi, Tôn Tẫn, Đái Đà, Nhi Lương, Vương Liêu, Điền Kỵ, Liêm Pha, Triệu Xa huấn luyện binh sĩ. Lúc nào cũng lấy mười phần đất, triệu binh hàng triệu, đến gõ cửa Tần mà giao chiến. Tần mở cửa nghênh địch, chín nước lần lượt do dự rồi rút chạy, chẳng dám tiến sâu. Tần chẳng phí một mũi tên đầu nhọn nào, mà chư hầu đã kiệt sức. Thế là minh ước tan rã, tranh nhau cắt đất dâng Tần. Tần còn thừa sức để chế ngự sự suy yếu của họ, đuổi kẻ chạy, truy kẻ thua, xác phơi hàng vạn, máu chảy đỏ ruộng. Nhân thế mà xẻ cắt thiên hạ, phân chia sông núi, nước mạnh xin thần phục, nước yếu vào triều cống. Đến đời Hiếu Văn vương, Trang Tương vương, tuy trị nước chưa lâu nhưng quốc gia yên ổn, không có biến sự.
Đến đời Tần Vương (Tần Thủy Hoàng), tiếp nối vinh quang sáu đời trước, nắm cương dài thống trị vũ trụ, thôn tính hai nhà Chu, diệt hết chư hầu, bước lên ngôi cao thống trị lục hợp, tay cầm roi sắt mà quất vào thiên hạ, uy danh vang bốn bể. Phía nam lấy đất Bách Việt, đặt làm quận Quế Lâm, Tượng, khiến các vua Việt phải cúi đầu, buộc cổ mà nhận lệnh từ quan lại Tần. Sai Mông Điềm lên bắc đắp Trường Thành giữ cõi biên thùy, đẩy lui Hung Nô bảy trăm dặm, người Hồ chẳng dám xuống phía nam chăn ngựa, binh sĩ không dám giương cung trả oán. Bèn bỏ đạo tiên vương, đốt sách trăm nhà để làm ngu dân; phá thành danh, giết kẻ kiệt xuất, thu binh khí trong thiên hạ về đúc ở Hàm Dương, nấu chảy mũi nhọn mà đúc thành mười hai tượng người vàng để làm yếu thế dân đen. Sau đó, chặt hoa làm thành, lấy sông làm bến, dựa vào thành cao vạn trượng, trông xuống vực sâu không đáy mà làm nơi cố thủ. Tướng giỏi, nỏ mạnh canh giữ chốn hiểm yếu; bề tôi trung, quân tinh trận thế dàn sẵn, gạn hỏi từng người. Thiên hạ xem như đã định. Tần Vương tự tin rằng đất Quan Trung vững chãi, thành đồng ngàn dặm, con cháu đời đời làm đế chẳng dứt.
Tần Vương vừa chết, dư uy còn vang nơi dị vực. Trần Thiệp, con nhà dân hèn, là kẻ đi lính bị lưu đày, tài năng không bằng người thường, chẳng có đức như Khổng Tử, Mặc Tử, chẳng giàu như Đào Chu Công, Nghi Đốn, mà chỉ là kẻ thường dân bước ra từ hàng ngũ, trỗi dậy giữa chốn dân gian, dẫn vài trăm người nghèo khổ mà chống lại Tần. Dùng gỗ làm binh khí, giơ sào làm cờ, thiên hạ tụ về như mây kéo, mang lương mà theo, hào kiệt vùng Sơn Đông lần lượt dấy lên mà diệt sạch tông tộc Tần vậy.
Hơn nữa, thiên hạ đâu phải yếu nhỏ, đất Ung Châu hiểm trở, vùng Hàm Cốc vững bền. Trần Thiệp không có địa vị cao hơn chư hầu nước Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tống, Vệ, Trung Sơn; cào bừa, xẻ rừng, đâu có sắc bén như giáo dài mâu nhọn; quân lính đi đày đâu có so được với quân chín nước; mưu sâu, trí xa, nghệ thuật dùng binh đâu sánh bằng danh tướng xưa. Thế nhưng thành bại khác nhau, công nghiệp trái ngược. Nếu đem nước Sơn Đông so với Trần Thiệp về địa thế, lực lượng, thì không thể sánh cùng. Vậy mà Tần với đất hẹp, xe nghìn cỗ, quyền hành khắp tám phương, chư hầu thần phục suốt trăm năm, rồi lấy lục hợp làm nhà, Hàm Cốc làm cung, mà cuối cùng chỉ một người dấy loạn, bảy miếu đổ nát, bản thân bị giết, bị thiên hạ chê cười. Vì sao? Vì không thực hành nhân nghĩa, nên thế công thủ trái ngược.
Tần thống nhất thiên hạ, nuốt chư hầu, xưng đế quay mặt về nam, nuôi dưỡng bốn bể. Sĩ phu thiên hạ đều ngưỡng mộ, cớ sao? Vì đã lâu không có thiên tử, nhà Chu suy vi, ngũ bá đã mất, lệnh không truyền khắp, nên chư hầu tự ý trị nước, kẻ mạnh hiếp yếu, đông hiếp ít, chiến tranh không ngừng, dân chúng mỏi mệt. Nay Tần xưng đế, trên có hoàng thượng, dân chúng mong mỏi yên ổn sinh mạng, ai cũng khiêm nhường mà hướng về triều đình. Chính vào lúc này, việc giữ uy, định công, gốc rễ an nguy đều tại đó.
Nhưng Tần Vương ôm lòng tham lam hèn hạ, hành xử theo trí riêng, không tin công thần, không gần sĩ dân, bỏ đạo vương, lập quyền tư, cấm văn thư, nặng hình luật, lấy gian trá làm đầu, nhân nghĩa làm sau, dùng bạo ngược làm mở đầu trị thiên hạ. Việc chinh phục thì trọng gian trá và vũ lực, việc giữ yên thì trọng thuận thế và quyền biến – đó là nói việc lấy và giữ là hai cách khác nhau. Tần từ thời chiến quốc lên làm thiên tử, đường lối không đổi, chính sự chẳng thay, nên cái được và cái giữ cũng không khác, vì thế mất nước cũng là điều có thể trông thấy. Giả như Tần Vương xét đến việc đời trước, nắm vững gương của Ân Chu để điều hành chính sự, thì dù đời sau có hôn quân dâm loạn, cũng chưa đến nỗi nghiêng ngả. Bởi ba vua dựng nước, danh hiệu vang xa, công nghiệp lâu dài.
Nay Tần Nhị Thế lên ngôi, thiên hạ đều ngẩng cổ ngóng trông chính sự của ông. Kẻ lạnh chuộng áo cũ, người đói thấy cám rượu cũng ngon – đó là vì dân khổ nên dễ cảm ơn đức. Nếu Nhị Thế có phẩm chất thường dân tốt, giao quyền cho người trung lương, vua tôi đồng tâm, lo nỗi khổ của thiên hạ, mặc đồ tang mà sửa lỗi tiên đế, chia đất phong dân, lập nước dựng chúa, bỏ ngục tha tội, quét sạch tham ô, cho dân hồi hương, mở kho ban lương, phát tiền giúp kẻ cô độc khốn cùng, giảm thuế nhẹ việc để cứu dân, giản luật giảm hình giữ phép lâu dài, khiến dân tự làm lại, tiết chế thân mình, dạy nhau tu dưỡng, lấp đầy mong mỏi muôn dân, lấy uy đức mà cảm hóa thiên hạ – thì thiên hạ đã được yên rồi. Lúc ấy, bốn bể đều mừng rỡ vui sống, chỉ sợ có loạn, dù có kẻ gian trá cũng không có lòng phản nghịch, thì kẻ thần không thể dùng mưu xấu, kẻ loạn chẳng dám dấy. Nhưng Nhị Thế không làm như vậy, lại còn thêm vô đạo, phá miếu, dời dân, xây lại cung A Phòng, hình phạt rối rắm, xử tử khốc liệt, quan lại cai trị tàn nhẫn, thưởng phạt không đúng, thuế má không chừng, sự việc khắp nơi, quan lại không kiểm soát được, dân chúng cùng quẫn mà vua không thương xót. Bởi vậy, gian trá nổi lên, trên dưới giấu giếm lẫn nhau, người bị tội rất nhiều, hành hình liên miên nơi đường sá, khiến thiên hạ cùng khổ. Từ vua đến dân đều tự lo sợ, sống trong khốn khó, ai cũng không yên chỗ, nên dễ bị kích động. Do vậy mà Trần Thiệp, chẳng nhờ hiền tài như Thang Vũ, chẳng mượn quyền như công hầu, chỉ vung tay trong đầm lớn mà thiên hạ đáp lại – chính là vì dân chúng nguy khốn vậy.
Bởi thế, tiên vương thấy rõ sự biến đổi đầu cuối, nắm được cơ tồn vong, nên đạo trị dân là phải lo an dân là gốc. Dù có kẻ phản nghịch cũng không ai theo, nên nói: “Dân yên thì có thể làm điều nhân nghĩa, dân nguy thì dễ làm điều phi pháp” là như vậy. Dù làm vua, giàu có thiên hạ, mà bản thân vẫn không thoát khỏi bị giết, đó là bởi đường lối sai lầm. Đó là lỗi của Nhị Thế vậy.
Tần Tương Công lên ngôi, trị vì mười hai năm. Lần đầu lập đàn tế trời tại Tây Chỉ. An táng tại Tây Thùy. Sinh ra Văn Công.
Văn Công lên ngôi, cư trú tại cung Tây Thùy. Năm mươi năm thì mất, an táng tại Tây Thùy. Sinh ra Tĩnh Công.
Tĩnh Công không được hưởng nước, mất sớm. Sinh ra Hiến Công.
Hiến Công hưởng nước mười hai năm, cư trú tại Tây Tân Ấp. Mất, an táng tại Nha. Sinh ra Vũ Công, Đức Công và Xuất Tử.
Xuất Tử hưởng nước sáu năm, cư tại Tây Lăng. Ba người là Trưởng Phất Kỵ, Uy Luy và Tham Phụ, dẫn giặc làm loạn, giết Xuất Tử tại Bỉ Diễn. An táng tại Nha. Vũ Công lên ngôi.
Vũ Công hưởng nước hai mươi năm, cư tại cung Bình Dương Phong. An táng phía đông nam tụ dân Tuyên Dương. Ba trưởng họ bị xử tội. Đức Công lên ngôi.
Đức Công hưởng nước hai năm, cư tại cung Đại Trịnh thuộc Ung. Sinh ra Tuyên Công, Thành Công, Mục Công. An táng tại Dương. Lúc đầu trừ yêu bằng pháp ngải.
Tuyên Công hưởng nước mười hai năm, cư tại cung Dương. An táng tại Dương. Lần đầu định việc lập tháng nhuận.
Thành Công hưởng nước bốn năm, cư tại cung Ung. An táng tại Dương. Nước Tề đánh núi Dung và Cô Trúc.
Mục Công hưởng nước ba mươi chín năm, được Thiên tử phong làm bá chủ. An táng tại Ung. Mục Công có học trò trứ danh. Sinh ra Khang Công.
Khang Công hưởng nước mười hai năm, cư tại nơi nghỉ cao ở Ung. An táng tại Xử Xã. Sinh ra Cộng Công.
Cộng Công hưởng nước năm năm, cư tại nơi nghỉ cao ở Ung. An táng phía nam mộ Khang Công. Sinh ra Hoàn Công.
Hoàn Công hưởng nước hai mươi bảy năm, cư tại nơi nghỉ lớn ở Ung. An táng phía bắc Nghĩa Lý Khâu. Sinh ra Cảnh Công.
Cảnh Công hưởng nước bốn mươi năm, cư tại nơi nghỉ cao ở Ung. An táng phía nam Khâu Lý. Sinh ra Tất Công.
Tất Công hưởng nước ba mươi sáu năm. An táng phía bắc Xa Lý. Sinh ra Di Công.
Di Công không được hưởng nước, mất, an táng tại Tả Cung. Sinh ra Huệ Công.
Huệ Công hưởng nước mười năm. An táng tại Xa Lý (Khương Cảnh). Sinh ra Đạo Công.
Đạo Công hưởng nước mười lăm năm. An táng phía tây mộ Hy Công. Thành lập thành Ung. Sinh ra Liệt Cung Công.
Liệt Cung Công hưởng nước ba mươi bốn năm. An táng tại Nhập Lý. Sinh ra Táo Công và Hoài Công. Năm thứ mười xuất hiện sao chổi.
Táo Công hưởng nước mười bốn năm, cư tại nơi nghỉ Thụ. An táng phía nam mộ Đạo Công. Năm đầu tiên lại có sao chổi.
Hoài Công từ nước Tấn về. Hưởng nước bốn năm. An táng tại Lạc Ngự thị. Sinh ra Linh Công. Các đại thần vây đánh, Hoài Công tự sát.
Túc Linh Công, là con của Chiêu Tử, cư tại Kinh Dương. Hưởng nước mười năm. An táng phía tây mộ Đạo Công. Sinh ra Giản Công.
Giản Công từ nước Tấn về. Hưởng nước mười lăm năm. An táng phía tây mộ Hy Công. Sinh ra Huệ Công. Năm thứ bảy, dân chúng lần đầu đeo kiếm.
Huệ Công hưởng nước mười ba năm. An táng tại Lăng Ngự. Sinh ra Xuất Công.
Xuất Công hưởng nước hai năm. Xuất Công tự sát, an táng tại Ung.
Hiến Công hưởng nước hai mươi ba năm. An táng tại Nghiêu Ngự. Sinh ra Hiếu Công.
Hiếu Công hưởng nước hai mươi bốn năm. An táng tại Đệ Ngự. Sinh ra Huệ Văn Vương. Năm thứ mười ba, dời đô về Hàm Dương.
Huệ Văn Vương hưởng nước hai mươi bảy năm. An táng tại Công Lăng. Sinh ra Đạo Vũ Vương.
Đạo Vũ Vương hưởng nước bốn năm. An táng tại Vĩnh Lăng.
Chiêu Tương Vương hưởng nước năm mươi sáu năm. An táng tại Sái Dương. Sinh ra Hiếu Văn Vương.
Hiếu Văn Vương hưởng nước một năm. An táng tại Thọ Lăng. Sinh ra Trang Tương Vương.
Trang Tương Vương hưởng nước ba năm. An táng tại Sái Dương. Sinh ra Tần Thủy Hoàng. Lữ Bất Vi làm tể tướng.
Từ Tần Tương công đến Nhị Thế hoàng đế, cả thảy sáu trăm mười năm.
Vào ngày 15 tháng 10 năm thứ mười bảy niên hiệu Hiếu Minh hoàng đế, năm Ất Sửu, có chiếu rằng:
“Chu lịch đã đổi, nhân đức không kế thừa từ mẹ. Nhà Tần nắm giữ địa vị, Lữ Chính tàn bạo hung hăng. Tuy vậy, đã thôn tính mười ba nước chư hầu, thống nhất thiên hạ, buông thả bản tính, tận hưởng dục vọng, nuôi dưỡng thân tộc. Trong ba mươi bảy năm, binh nhung đi khắp nơi, chế định chính lệnh, truyền tới đời sau. Oai phong sánh với thánh nhân, nhận đồ thư của Hà Thần, cưỡi sói cưỡi cáo, giẫm lên Tham, Phạt, giúp việc chính trị, trừ bỏ gian tà, nên xưng là Thủy Hoàng.”
**Từ khi Thủy Hoàng mất, Hồ Hợi cực ngu tối, lăng Lê Sơn chưa hoàn tất lại dựng cung A Phòng, tiếp tục kế sách trước. Hắn bảo rằng: “Người làm chủ thiên hạ thì nên phóng túng dục vọng, đại thần nào muốn bãi bỏ công việc của tiên quân đều phải trừ khử.” Thế là giết Sở Lộc, giết Phùng Kiếp, dùng Triệu Cao. Than ôi lời này! Đầu người kêu như súc vật. Không nghiêm để dẹp ác, không chân thành thì dễ mất. Triệu Cao không được giữ lại, mà hung bạo làm gấp kỳ hạn, dù ở đất đai thuận tiện, vẫn chẳng thể sống sót.”
**Tử Anh tạm thời kế vị, đội mão ngọc, đeo đai quý, xe vàng lọng vàng, theo sau là bá quan, đến tế bảy miếu. Tiểu nhân ngồi chỗ không nên ngồi, ai nấy đều bối rối, mất hết cảnh giác, ngày ngày sống an nhàn mà không tính xa. Cha con cùng nắm quyền, âm mưu lại chỉ xuất phát từ nơi song cửa. Cuối cùng, Tử Anh giết được gian thần, thay vua trừ giặc. Sau khi Triệu Cao chết, thân thuộc chưa kịp đến chịu tang, cơm chưa kịp nuốt, rượu chưa kịp chạm môi, thì quân Sở đã phá Quan Trung. Chân nhân cưỡi gió nơi Bạt Thượng, xe trắng, dây tím, mang phù ấn hoàng đế mà giao cho người kế nghiệp. Bá tước nước Trịnh dùng cờ mao, kiếm loan mà hộ tống vua lui về. Sông vỡ chẳng thể đắp lại, cá thối chẳng thể lành nguyên.”
**Giả Nghị và Tư Mã Thiên từng nói: “Nếu như Tử Anh có chút tài năng của bậc vua tầm thường, chỉ cần một người phò tá khá giỏi, thì dù Sơn Đông có loạn, đất Tần vẫn còn giữ được, lễ tế tông miếu cũng chưa đến nỗi bị tuyệt diệt.” Nhưng nhà Tần đã suy mòn tích tụ lâu ngày, thiên hạ sụp đổ như đất đá, thì dù có tài năng như Chu Công Đán, cũng chẳng có chỗ để thi thố tài nghệ, lại còn trách một kẻ đơn độc trong một ngày – lầm lạc thay! Dân gian truyền rằng tội lỗi bắt đầu từ Tần Thủy Hoàng, đạt tới cực điểm nơi Hồ Hợi – đúng lý vậy. Còn đòi hỏi nơi đứa bé, nói rằng đất Tần có thể giữ được – đó là lời của kẻ không hiểu thời biến.”
Cuối cùng, ghi chú: Cơ Kỷ được ban đất Ấp, nhưng trong Xuân Thu thì không ghi tên. Ta đọc đến truyện Tần, đến lúc Tử Anh phanh thây Triệu Cao, không khỏi khâm phục quyết đoán của y, thương tiếc chí hướng của y. Việc sinh tử của Tử Anh đã đầy đủ vậy.
