Tóm tắt truyện
Trong một ngôi làng hẻo lánh ở miền núi phía Bắc, ba người nông dân – Isaku, Tasuke và Tarouemon – sống nhờ làm ruộng và đốt than. Một ngày nọ trên đường đi bán than, họ phát hiện một đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, bọc trong vải đẹp và mang theo một túi đầy tiền vàng. Sau một hồi tranh cãi, họ quyết định để Tarouemon – người không con – nuôi đứa bé. Isaku và Tasuke mỗi người giữ một phần tiền, còn Tarouemon từ chối nhận tiền và nuôi đứa bé bằng tấm lòng.
Vợ chồng Tarouemon hết mực yêu thương đứa trẻ, đặt tên là Asatarou, và coi như con ruột. Dù nghèo càng thêm nghèo, họ vẫn sống hạnh phúc. Trong khi đó, Isaku và Tasuke ngày càng bất hòa, thường xuyên cãi vã vì tiền và lòng tham.
Bốn năm sau, quan đại thần từ thành phố đến làng, tiết lộ rằng Asatarou thực chất là Yoshimatsu, người thừa kế của Chúa Công, bị âm mưu ám hại nên mới được lén mang bỏ ở núi. Tarouemon trao trả con, được thưởng hậu hĩnh. Nhưng ông không vui, mà nghẹn ngào xin được nhắn rằng: nếu Yoshimatsu thấy làm Chúa khổ quá, cứ về lại nhà mình.
Thông điệp chính
Truyện gửi gắm nhiều thông điệp nhân văn sâu sắc:
- Lòng nhân hậu và tình yêu thương không vụ lợi: Tarouemon nuôi đứa trẻ không vì tiền, mà vì lòng trắc ẩn. Tình cảm cha mẹ – con cái được xây dựng từ tình yêu, không phải huyết thống.
- Giá trị thật sự của con người không nằm ở tiền bạc: Dù Isaku và Tasuke nhận nhiều vàng, họ không có được hạnh phúc như Tarouemon. Sự giàu có của họ không mang lại sự bình yên hay niềm vui thực sự.
- Niềm hạnh phúc giản dị của người lao động chân chất: Cuộc sống nghèo nhưng đầy tình thương, sự cần mẫn và niềm vui giản đơn của Tarouemon và vợ là một hình mẫu đẹp của người nông dân lương thiện.
- Danh phận không làm mất đi sự gắn bó: Dù biết Asatarou là người kế vị, Tarouemon vẫn yêu thương con như trước. Lời nhắn “có thể quay về bất cứ khi nào” cho thấy một tình cảm không ràng buộc bởi địa vị hay xuất thân.
Bản dịch
Ngày xưa, trong một vùng núi hẻo lánh ở phương Bắc, có một ngôi làng nhỏ. Trong làng ấy có ba người nông dân tên là Isaku, Tasuke và Tarouemon. Họ sống bằng nghề cày ruộng với vài mảnh ruộng nhỏ, tranh thủ thời gian rảnh rỗi để đốt than mang ra chợ ở thành phố, cách đó khoảng ba dặm, để bán.
Ngôi làng nơi họ sinh ra vô cùng hẻo lánh, đến mức khi mùa thu đến, cảnh núi rừng đỏ rực lá phong mới khiến dân thành phố ghé qua ngắm cảnh – ngoài ra chẳng có gì nổi bật. Tuy vậy, ở lối vào làng có một con sông lớn, đến mùa thu cá suối như cá iwana và yamabe bơi đầy trong dòng nước. Người dân trong làng ai cũng vui vẻ, khỏe mạnh và siêng năng lao động.
Vào một ngày cuối thu nọ, ba người – Isaku, Tasuke và Tarouemon – như thường lệ, mỗi người gùi ba bao than lên lưng, khởi hành đến thành phố. Khi họ rời làng, sương sớm vẫn còn phủ trên dòng sông, sương giá trắng xóa trên những tảng đá ở bãi sông.
“Trông thế này thì chắc hôm nay trời lại đẹp cho xem,” Isaku vừa qua cầu vừa lẩm bẩm. Hai người kia liền hưởng ứng lớn tiếng:
“Phải rồi, trời đẹp đấy!”
Ba người, ngoài niềm vui nhỏ là sẽ được uống rượu ở quán nhậu sau khi bán xong than, chẳng có gì khác để nghĩ ngợi nên cứ thế bước đi thoăn thoắt.
Isaku là người to khỏe nhất, nên khi leo đèo thường vượt trước hai người kia một khoảng xa. Tasuke và Tarouemon vừa leo vừa trò chuyện rôm rả về chuyện một cô gái trong làng lấy chồng ở miền biển, chồng mất nên đã quay về – họ nói cứ như chuyện lớn lắm.
Khi qua khỏi đèo là một cánh đồng rộng, nơi đó trải dài mười dặm vuông ruộng lúa chín vàng ươm.
“Isaku đi gì mà nhanh thế không biết!” Tasuke nói.
“Chắc giờ cậu ta đang nghỉ chân dưới dốc rồi ấy chứ!” Tarouemon cười đáp. Khi hai người tới đoạn có thể nhìn xuống dưới chân đèo thì thấy Isaku đang vẫy tay ra hiệu một cách sốt ruột.
“Có chuyện gì vậy nhỉ? Hình như Isaku đang gọi tụi mình đó!” Tasuke nói. Tarouemon cũng nhíu mày nhìn theo.
“Lại đây mau! Có cái gì hay lắm rơi ở đây này!” Isaku hét lên.
“Cái gì hay ho rơi cơ đấy.” Tasuke cười bảo. Tarouemon cũng cười lớn:
“Đồ mà Isaku nhặt thì chắc chả ra gì đâu!”
Cả hai bước vội xuống dốc. Dưới đó, Isaku trông sốt ruột ra mặt, như không thể chờ nổi.
“Coi như bị lừa cũng được, mau tới đây xem đi!” Tasuke vội vàng chạy trước, khiến than lạo xạo trong bao. Tarouemon thì vốn không nhanh nhẹn nên theo sau chậm rãi.
Khi Tarouemon tới nơi, Isaku và Tasuke đang cúi xuống ngắm nghía, sờ vào cái gì đó trông rất cẩn trọng.
“Cái gì rơi ở đây vậy?” Tarouemon thò mặt vào hỏi.
“Nhìn đi, có thứ thế này rơi ở đây đấy!” Isaku hơi né người để Tarouemon nhìn rõ hơn.
“Trời ơi! Chuyện gì kỳ lạ thế này!” Tarouemon kêu lên. Trước mặt ba người là một đứa bé trai mới sinh chừng ba tháng, được bọc trong tấm vải đẹp và bị bỏ rơi ở đó. Theo lời Isaku, lúc anh ta phát hiện thì đứa bé vẫn đang ngủ ngon lành.
“Không biết là con nhà ai, trông mặt mũi kháu khỉnh quá!” Tasuke nhìn đứa bé rồi nói.
“Coi kìa, mặc đồ đẹp thế kia, chắc không phải con nhà thường đâu. Đụng vào thì phiền to đấy. Không khéo còn bị lôi vào tù nữa. Người ta vẫn bảo: ‘Tránh xa thần linh thì không bị vạ’ mà.” Tasuke nói thêm.
“Biết vậy, nhưng không thấy tội nghiệp sao? Lỡ thú hoang thấy thì bị ăn mất đấy!” Tarouemon vốn hiền lành nói.
“Ừ thì tội thật, nhưng mà coi cái vải quấn đứa bé đi!” Isaku – người có phần tham lam – liền cởi tấm vải đẹp ra xem. Trên bụng đứa bé có một dải đai may hình tam giác. Isaku gỡ ra, không màng đến tiếng khóc của đứa bé, vung vẩy đai đó thì từ trong rơi ra đầy đồng tiền vàng koban. Cả ba đều sững sờ.
“Trời đất! Chuyện gì mà sốc quá vậy!” Tasuke tái mặt nhìn Tarouemon. Còn Tarouemon thì chưa bao giờ thấy nhiều tiền đến vậy, sợ hãi đến run lẩy bẩy.
Theo ý của Isaku, cả ba quyết định nhặt đứa bé lên.
“Tiền này thì… để tôi giữ vậy.” Isaku định cuốn quanh bụng mình. Tasuke tức giận, hai người suýt cãi nhau. Cuối cùng, Isaku đành đưa Tasuke 10 đồng, Tarouemon thì 5 đồng và nói:
“Anh không có con mà, nuôi nó thì tốt quá còn gì.”
Nhưng Tarouemon bảo:
“Tôi thương đứa nhỏ nên mới mang về, chứ không phải vì tiền đâu,” và nhất quyết không nhận đồng nào. Tasuke sợ Isaku lấy lại cả 5 đồng nên khuyên Tarouemon nhận, nhưng anh vẫn từ chối. Cuối cùng, Isaku cho Tasuke thêm 2 đồng, rồi bỏ lại 3 đồng vào đai vải và quấn vào bụng. Tasuke nhận thêm 2 đồng cũng thấy không tệ.
Họ quyết định không vào thành phố nữa mà quay về làng luôn hôm đó.
Trên đường về, Tarouemon cứ lo không biết làm sao nuôi đứa bé. Nhưng khi về tới nhà, vợ anh – người không có con – mừng đến phát khóc khi thấy đứa trẻ, khiến Tarouemon yên tâm phần nào. Tuy nhiên, do Isaku đã dặn, anh không hề kể chuyện tiền vàng. Isaku còn dặn kỹ: “Nếu chuyện tiền bị lộ ra, ba người chúng ta đều vào tù đấy!”
Hai vợ chồng Tarouemon càng nhìn đứa trẻ càng thấy yêu thương, một cảm giác hạnh phúc mà trước đây họ chưa từng có. Vợ anh nhìn kỹ tấm vải bọc đứa bé rồi nói:
“Có khi nào nó là con nhà chùa không?”
Bà nói vậy vì tấm vải là loại gấm dày quý, bà từng thấy trong chùa ở thành phố.
“Ngốc thế! Sao lại có chuyện người chùa bỏ con được!” Tarouemon mắng vợ.
Tối hôm đó, hai vợ chồng nấu nước tắm cho đứa bé. Khi cởi đai áo để mang bé đi tắm thì từ tay áo rộng rơi ra một mảnh giấy. Bà vợ nhặt lên đưa cho chồng:
“Cái gì đây?”
Trên mảnh giấy viết bằng chữ hiragana:
“Do có lý do, nên ta bỏ lại con trai. Người có lòng thương hãy nuôi dưỡng tử tế. Đừng khai danh cho tới khi có tin. Nếu hỏi đến thì gió xuân thổi.”
Hai vợ chồng mất cả đêm để đọc và hiểu được mảnh thư. Cách họ đọc khác nhau nên càng thêm lúng túng.
“Chắc là nhắn người nhặt nuôi tốt nó thôi,” Tarouemon nói. Vợ anh gật đầu:
“Phải rồi, chắc vậy!”
Tối đó, hai người thay nhau ôm đứa bé ngủ. Da bé mềm mại khiến họ cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Đêm bé khóc hai lần, mỗi lần họ đều nhanh chóng thức dậy dỗ dành, thay tã. Sáng ra, vợ anh dậy sớm mở cửa thì nắng sớm chiếu rọi vào, khiến bà thấy mình như trở thành người vĩ đại.
Tarouemon thì cứ nhìn đứa trẻ đang ngủ trong vòng tay mà có cảm giác như đó là con ruột mình.
“Coi xem, đứa nhỏ này mặt mũi thật khôi ngô quá!” – anh gọi vợ đang chuẩn bị bữa sáng ra xem.
“Thật đấy. Con thế này mà làm nông thì phí quá!” – vợ anh ngắm nhìn rồi nói đầy cảm xúc.
Tin đồn rằng Tarouemon nhặt được con lan nhanh khắp làng. Chiều đến, các bà vợ, các ông già, lũ trẻ con lũ lượt kéo đến xem đứa bé. Ai cũng trầm trồ vì đứa nhỏ quá xinh đẹp.
“Mẹ kiếp, nhà Tarouemon thật may mắn làm sao!” – ai nấy đều nói vậy khi ra về.
Trước đây, nhà Tarouemon vốn là hộ nghèo nhất làng, sống bằng sự chân thật mà thường bị người ta coi thường. Nhưng từ khi có đứa bé, ngôi nhà trở nên đông vui và tràn ngập hạnh phúc. Dù không có ruộng đất, mà giờ lại thêm miệng ăn, cái nghèo càng thêm chồng chất, nhưng chưa bao giờ Tarouemon than phiền. Dù đang cày ruộng hay đốt than trên núi, hễ nghĩ đến đứa bé, lòng anh lại thấy rộn ràng: “Mau xong việc để còn được nhìn mặt con.”
Họ đặt tên đứa bé là Asatarou (vì nhặt được vào buổi sáng). Giờ đây, cậu bé đã lên bốn tuổi. Mặt mũi thì sáng sủa, nhưng vì thường theo cha mẹ ra đồng, ra núi nên da đen nhẻm, chẳng khác gì con nhà nông. Quần áo cũng là loại bình dân, nên nhìn chẳng ai nghi ngờ đó không phải con ruột của vợ chồng Tarouemon.
Còn hai người Isaku và Tasuke thì sao? Sau vụ nhặt được đứa trẻ, tình cảm giữa họ ngày càng xấu đi, suốt ngày cãi vã. Isaku xây được một quán rượu nhỏ bên cầu vào mùa hè, và vì trong làng không có quán nào khác nên rất đông khách, dần dần phất lên mà không cần làm ruộng hay đốt than nữa.
Tasuke thì sống ở rìa làng với một guồng nước nhỏ. Hằng ngày, ông ghé quán Isaku uống rượu, ăn cá khô mà chẳng bao giờ trả tiền. Chính điều đó khiến hai người thường xuyên cãi nhau, rồi lại làm hòa, rồi lại cãi – cứ thế lặp lại.
Dân làng không hiểu vì sao hai người từng thân thiết lại thành ra như vậy.
Vào đầu mùa thu năm Asatarou lên bốn, từ thành phố, quan đại thần cùng đoàn tùy tùng rầm rộ kéo về làng, bảo vệ một chiếc kiệu trống. Cả làng bàng hoàng sững sờ khi thấy cảnh tượng ấy. Đoàn người tiến thẳng vào nhà trưởng làng – ông Chouzaemon – khiến ông xanh mặt ra tiếp.
“Dù mùa lá đỏ chưa tới, không rõ vì chuyện gì ngài lại về tận nơi hẻo lánh này, xin cứ ra lệnh,” ông trưởng làng cúi rạp.
Quan đại thần mỉm cười nói:
“Thật ra, ta đến đây vì một chuyện kỳ lạ, mong ông cùng bàn bạc.”
Chouzaemon càng thêm run sợ: “Nếu là chuyện của ngài, dù thế nào tôi cũng xin nghe theo.”
“Chuyện là… ta nghe nói trong làng có một bé trai tên Asatarou. Ta muốn xin đứa bé ấy – liệu có thể không?”
“À…”, ông trưởng làng lắp bắp không nói tiếp được. Vì ông biết Tarouemon rất yêu thương Asatarou.
“Ta biết cả chuyện Tarouemon nhặt và nuôi dưỡng cậu bé. Chính vì biết nên ta mới đến đây bàn bạc. Thật ra, đứa trẻ ấy chính là tiểu công tử Yoshimatsu, người thừa kế của Chúa Công. Do một sai sót trong gia đình, cậu bé suýt bị kẻ xấu hãm hại. Sau nhiều nỗ lực, đành gửi gắm số phận em nơi vùng núi này, hy vọng người lương thiện cưu mang. Chứng cứ về việc đó, người nhặt đứa trẻ hẳn còn giữ. Dù sao cũng phải gặp ngay Yoshimatsu.”
Nghe chuyện, ông Chouzaemon lập tức đến nhà Tarouemon, yêu cầu lấy mảnh giấy đang được cất trên bàn thờ và đưa Tarouemon cùng Asatarou đến trình diện.
Khi tới nơi, cả quan đại thần lẫn tùy tùng đều ra tận hiên tiếp đón. Asatarou được mời ngồi trước bàn thờ, mọi người kính cẩn cúi đầu chào. Tarouemon đã được báo trước, nhưng thấy cảnh tượng này vẫn bàng hoàng.
Asatarou thì còn nhỏ, chỉ ngơ ngác nhìn mọi người.
Chiều hôm ấy, khi mặt trời lặn, Yoshimatsu – chính là Asatarou – được đưa lên chiếc kiệu thêu hoa mẫu đơn, in hình gia huy, hướng về thành phố.
Đổi lại, vợ chồng Tarouemon được trao một khoản tiền kếch xù.
“Ôi, thật là chuyện mừng rỡ! Con nhà anh Tarouemon nay thành Chúa Công rồi còn gì!” – ông trưởng làng xúc động.
Nhưng Tarouemon rớm nước mắt, nói:
“Mừng gì chứ… Ông trưởng làng, làm ơn nói với cậu ấy: nếu làm Chúa Công mà thấy khổ thì cứ quay về nhà này, không phải ngại gì cả!”
Nói rồi, nước mắt anh tuôn không ngừng.
