Giấc mộng vĩ đại – Edogawa Ranpo – Trinh thám Nhật Bản cổ điển

Lời tác giả

Hãy trân trọng giấc mơ. Lục quân và hải quân của chúng ta chẳng phải đang hiện thực hóa giấc mơ ba nghìn năm của đế quốc đó sao? Giấc mơ vĩ đại, cùng với nỗ lực không ngừng từng ngày, từng tháng – chính nhờ vậy mà thực tại vĩ đại mới được sinh ra. Không có giấc mơ thì không có khoa học. Sự tiến bộ của khoa học nợ rất nhiều nơi những giấc mơ của thiên tài. Mỗi trang trong lịch sử khoa học đều chứng minh điều đó. Không có những giấc mơ đi trước thực tại, thì cũng chẳng có sự tiến bộ nào trong thực tại cả. Hiện tại là lúc hoặc giành thắng lợi hoàn toàn, hoặc chẳng còn lại một người dân nào sống sót. Hãy thôi than vãn về sự thiếu thốn vật chất, thôi co rúm trước thực tại ngay trước mắt. Hãy gạt bỏ lòng vị kỷ nhỏ bé và ôm lấy giấc mơ vĩ đại. Tôi sẽ kể một giấc mơ – tất nhiên, không phải ác mộng của những ngày xưa cũ. Hãy vứt bỏ hết thảy những ác mộng ngày cũ, và trong giới hạn sức lực của mình, tôi muốn kể một giấc mơ lành lớn lao.


Nhịp tim của người khổng lồ

Khi các quốc gia trên thế giới dốc toàn lực, làm rung chuyển cả mặt đất để giao tranh, khi uy thế Nhật Bản quét sạch cả Đông Bán Cầu, khi những đại sự từng là giấc mơ viển vông của người dân bốn, năm năm trước đang dần thành hiện thực trước mắt họ, khi từng người lính ở tiền tuyến đang hóa thành thần để sáng tạo nên thần thoại của thời đại, thì trái tim của Thánh chiến – tức Bộ Lục quân Nhật Bản – vẫn ngày đêm, bền bỉ đập nhịp một cách mạnh mẽ và đầy hi vọng.

Quả tim khổng lồ ấy không vì tình hình chiến sự nhỏ nhặt mà mừng hay buồn, nó luôn đập một cách đều đặn, lạnh lùng và vững vàng trong mọi hoàn cảnh. Nhưng, rất hiếm khi, vì một nỗi lo lớn lao hay niềm vui to lớn, nó cũng không thể không đập gấp hơn thường lệ. Cậu bé phục vụ phòng Takahashi Kiichi, bằng sự nhạy cảm của tuổi trẻ, đôi khi cảm nhận được trực giác sự thay đổi nhịp đập nơi trái tim khổng lồ đó.

Hôm nay, Takahashi cũng cảm thấy sự thay đổi ấy rõ ràng trong cơ thể. Một điềm chẳng lành. Khi bản báo cáo lịch sử về cuộc tấn công Trân Châu Cảng được đưa đến, khi tin chiến thắng ở Shōnantō và Corregidor lan truyền, nhịp tim người khổng lồ cũng đã đập dồn dập hơn. Nhưng cảm giác hôm nay hoàn toàn khác biệt. Và trực giác mách bảo cậu rằng mức độ nghiêm trọng lần này có lẽ cũng lớn như thế – thậm chí còn lớn hơn. Có lẽ đây không phải là cảm giác phấn khích vì niềm vui, mà là điềm báo cho một nỗi lo lớn sắp tới chăng? Ngay cả một thiếu niên phục vụ như cậu cũng cảm thấy toàn thân toát mồ hôi lạnh vì hồi hộp. Từ khoảng ba giờ chiều, một cuộc họp tuyệt mật đã được mở tại phòng họp nhỏ sát phòng Bộ trưởng. Takahashi biết rằng, những cuộc họp càng ít người tham dự thì lại càng nghiêm trọng. Mà hôm nay, số người tham gia cực kỳ ít, và hơn nữa, thành phần dự họp lại hoàn toàn khác với các cuộc họp thường ngày trong Bộ, điều đó càng khiến cậu cảm thấy kỳ lạ.

Qua cánh cửa gỗ sồi nặng trịch của phòng họp, lần lượt từng người với vẻ mặt căng thẳng bước vào. Hơn nửa trong số họ là những quan chức cấp cao mà cậu quen mặt – Bộ trưởng Lục quân, Phó Tổng tham mưu trưởng, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Hàng không, Cục trưởng Cục Quản lý Vũ khí – toàn là những người đứng đầu tối cao.

Ngoài ra còn ba người mặc đồ tây, trong đó có một ông lão ăn mặc cực kỳ luộm thuộm khiến một đồng nghiệp của Takahashi phải cố nín cười vì hình dáng kỳ lạ. Ông ta là một người thấp bé không tới 1m5, lưng hơi còng, trông như một Tí Hon. Bộ vest đen sậm nhăn nhúm như màu bánh mật, cổ áo xám lem luốc thò cả ra ngoài ve áo, cà vạt lỏng lẻo như sắp bung, đầu tóc muối tiêu rối bù như chổi cọ, gương mặt đen gầy guộc. Râu ria lởm chởm lẫn tóc bạc phủ khắp má và đầu – chắc nhiều tuần chưa cạo. Trên chiếc mũi to kỳ dị là cặp kính gọng tròn cũ kỹ như sắp tuột khỏi sống mũi. Rõ ràng ông ta chẳng hề phù hợp để ngồi cùng bàn với Bộ trưởng Lục quân.

Cánh cửa dày được đóng kín, cuộc họp kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Trong suốt thời gian đó, ngay cả thư ký riêng của Bộ trưởng cũng không được phép đến gần hành lang trước phòng họp. Một cuộc họp tuyệt mật nghiêm ngặt đến mức như thế thật chưa từng có trong vài tháng gần đây.

Khoảng năm giờ chiều – tức giữa buổi họp – cánh cửa mới mở ra một lần. Và vinh dự được bước vào bên trong chỉ dành cho Takahashi và một cậu phục vụ khác. Theo lời gọi từ điện thoại nội bộ, chính Cục trưởng Cục Kỹ thuật Hàng không đã đích thân ra lệnh chuẩn bị bảy phần sandwich và trà.

Hai cậu bé mang khay trà và sandwich từ phòng ăn vào phòng họp. Takahashi đã quen với cảnh tượng bên trong những cuộc họp như vậy. Thường thì trong những cuộc họp nghiêm túc, khi người phục vụ bước vào, các quan chức đang thì thầm chuyện mật đều lập tức im bặt, chuyển sang đùa cợt và cười nói vui vẻ, như thể chẳng có gì căng thẳng. Thậm chí ngay cả Bộ trưởng Lục quân – người vốn rất nghiêm túc – cũng thường buông những câu đùa hài hước khiến người ta bật cười.

Nhưng hôm nay thì hoàn toàn khác. Tuy như thường lệ, câu chuyện bị ngắt ngay khi họ bước vào, nhưng không có ai cười đùa. Bầu không khí trở nên yên ắng lạ thường. Khuôn mặt của các quan chức – những người vốn không dễ gì nao núng – giờ đây tái đi vì căng thẳng, trông như đang phải chịu đựng một nỗi xúc động ghê gớm. Ngay cả không khí trong phòng cũng như căng lên sắp vỡ.

Trong khung cảnh ấy, chỉ có một người là mỉm cười – chính là ông lão kỳ dị râu ria xồm xoàm kia. Bằng trực giác nhạy bén, Takahashi ngay lập tức nhận ra: người giữ vai trò trung tâm trong cuộc họp này không phải là Bộ trưởng hay Phó Tổng tham mưu trưởng, mà chính là ông lão lạ lùng ấy. Sáu gương mặt nghiêm nghị vây quanh lão, xanh xám vì căng thẳng, không một ai nở nụ cười – đó là cảnh tượng kỳ quặc đến mức khiến người ta sửng sốt.

Bộ trưởng Lục quân ngồi dựa sâu vào ghế bành, lấy tay phải che ria mép, mắt nhìn lơ đãng lên trần nhà, gò má co giật nhẹ vì căng thẳng. Phó Tổng tham mưu trưởng thì cúi người về phía trước, hai tay chống lên đầu gối, mắt nhìn chằm chằm vào lão già. Đôi mắt to của ông ta ánh lên một tia sáng kỳ lạ – không phải là giận dữ mà là sự ngạc nhiên và hoan hỉ đan xen.

Hai sĩ quan cấp cao khác trong quân phục đều khoanh tay, nhìn thẳng ra phía trước bằng ánh mắt lạnh lùng. Nhưng ánh mắt ấy vẫn không thể giấu được sự kích động dữ dội.

Hai người mặc đồ tây còn lại cũng mang nét mặt tương tự. Một người cứ hút thuốc liên tục, sau mỗi lần rít lại đập điếu thuốc vào gạt tàn như thể muốn phủi tro – dù chưa có tí tro nào. Bàn tay ông ta khẽ run, khiến Takahashi cảm thấy như thể có điều gì đó khủng khiếp đang diễn ra.

Hai cậu bé phục vụ cố gắng giữ nhịp thở thật nhẹ, cung kính phát trà và sandwich xong liền lập tức lui ra. Không khí căng thẳng trong phòng như lan sang cả họ. Khi khép lại cánh cửa gỗ sồi nặng nề, họ thở phào nhẹ nhõm.

Tất cả nhân viên phục vụ của Bộ đều bị cấm tuyệt đối không được bàn tán về những sự việc trong cơ quan. Đặc biệt là hai cậu phục vụ trong Văn phòng Bộ trưởng – vì thường xuyên tiếp xúc với các quan chức cấp cao – nên được huấn luyện nghiêm ngặt hơn cả. Ngay cả giữa họ với nhau, cũng không được tự do chia sẻ suy nghĩ. Và thế là hai cậu trở lại phòng nghỉ như không có chuyện gì xảy ra.

Takahashi – vốn là một thiếu niên nhạy cảm – đêm ấy nằm trên giường ở nhà mà không sao quên được cảnh tượng kỳ dị trong phòng họp. Theo kinh nghiệm của cậu, sau những cuộc họp trọng đại như vậy, thế nào cũng sẽ có thông báo chấn động dư luận. Cuộc họp bí mật xoay quanh ông lão kỳ quái ấy rốt cuộc sẽ được công bố dưới hình thức nào đây? Cậu cứ mãi chờ đợi, nhưng một tuần, rồi một tháng trôi qua – không có tin tức gì được công bố. Với Takahashi, cuộc họp tuyệt mật ngày hôm đó đã trở thành một bí ẩn vĩnh viễn.

Vách đá não bộ

Vị lão nhân khiến cậu bé Takahashi lấy làm lạ, sau khi cuộc họp kết thúc, đã được xe hơi của Bộ Lục quân trịnh trọng đưa về tận nhà.

Khi đã yên vị ở ghế hành khách trong xe, ông vừa lẩm bẩm một mình vừa không ngừng cử động, như thể không thể ngồi yên. Thậm chí, ông còn nhiều lần nhổm dậy trong khoang xe chật chội như muốn đứng lên, khiến đầu đụng vào trần xe. Khi xe rẽ gấp, ông còn ngã ngồi xuống sàn xe.

Lúc ở phòng họp, lão nhân chỉ mỉm cười suốt buổi, còn sáu quan chức cao cấp kia mới là những người kích động. Nhưng giờ đây, chính ông ta lại bắt đầu kích động, vật vã như kẻ say rượu. Dù vậy, ông vẫn ôm khư khư chiếc cặp da lớn dưới cánh tay, tuyệt không rời tay. Chắc chắn trong đó chứa đựng vật gì đó cực kỳ quan trọng.

Không màng đến dáng vẻ cuồng loạn của người trong xe, chiếc xe không lâu sau đã đến một khu phố cổ thuộc quận Azabu, và dừng lại trước cổng đá thấp của một căn nhà bao quanh bởi hàng rào cây trong một con hẻm nhỏ. Trên bảng tên đề “Igarashi Tōzō”.

Sau khi tiễn xe đi, lão nhân bước nhanh như nhảy đến cửa chính nhà mình. Cô hầu gái ra đón với vẻ mặt ngạc nhiên trước bộ dạng hoàn toàn khác lạ của chủ nhân, thì ông nói:

“Shinichi có ở nhà không? Ừ, nếu có thì bảo nó đến ngay phòng làm việc của ta. Nói là ta có chuyện quan trọng cần nói. Nhớ đấy, ngay lập tức!”

Nói xong, ông lao thẳng vào thư phòng phía trong mà chẳng buồn thay đồ.

Ông đặt mạnh chiếc cặp da đang ôm chặt lên bàn làm việc rồi ngồi xuống ghế xoay, nhưng chỉ ngồi chốc lát rồi lại đứng lên, đi vòng quanh phòng làm việc. Vừa đi, ông vừa vung tay múa chân như thể đang diễn thuyết.

“Con về rồi à.”

Ngoài cánh cửa đang mở, một thanh niên khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi đang đứng. Đó là một thanh niên có nước da rất trắng, gương mặt tuấn tú, không hề giống lão nhân kia chút nào. Cậu mặc áo khoác mùa thu bằng vải meisen kasuri ngay ngắn, đi chân trần mang dép lê, bàn chân trắng trẻo đẹp đẽ như của phụ nữ.

“À, Shinichi đấy à. Ta có chuyện muốn nói với con. Mẹ con thế nào? Vẫn còn ngủ à?”

“Vâng, giờ vẫn chưa thể dậy được đâu ạ. Chắc phải để mẹ nằm thêm hai ba hôm nữa.”

“Ừ, căn bệnh kinh niên của bà ấy thật phiền toái. Nhưng chuyện đó giờ không quan trọng. Ta có chuyện lớn cần nói với con. Đêm nay, ta phải tiết lộ cho con một việc trọng đại. Từ ngày mai, con sẽ nghỉ việc ở phòng phiên dịch của Cảnh sát Đô thành. Nghe rõ chưa? Rồi con sẽ làm trợ lý cho ta.”

“Hả? Nghỉ việc ạ?”

Shinichi ngây người, nhìn người cha đang hớn hở chẳng giống ông chút nào. Cậu chưa bao giờ nghĩ rằng cha mình lại có một mặt hưng phấn, nói năng không ngớt như thế.

“Ừ, cứ ngồi xuống kia đã. Ta có chuyện muốn kể. Chuyện khiến con phải sửng sốt đấy. Không chỉ con đâu – cả nước Nhật sẽ sửng sốt. Không, là cả thế giới ấy chứ.”

Shinichi ngồi xuống chiếc ghế dài, lo lắng nhìn mặt cha. Ông Igarashi đi qua đi lại trước mặt con như kẻ điên, miệng vẫn lải nhải không dứt.

“Shinichi, con không chỉ giống mẹ ở gương mặt. Tâm hồn con cũng giống hệt mẹ. Con và ta khác nhau từ ngoại hình đến tính cách. Chúng ta vốn là hai cha con chẳng mấy thân thiết. Ta chưa bao giờ trò chuyện tâm tình với con một cách đàng hoàng. Nhưng đêm nay, ta sẽ nói hết. Shinichi, cả con và mẹ đều không hề biết ta thực sự là ai. Dĩ nhiên, trước khi nghỉ việc ở Xưởng chế tạo máy bay Jōtō bảy năm trước, với tư cách là kỹ sư tiến sĩ Igarashi Tōzō, các con có biết ta là ai. Nhưng sau đó, suốt bảy năm qua, các con – dù sống chung một nhà – cũng hoàn toàn không biết ta đã làm gì, hiện tại ta là ai.

Suốt bảy năm qua, ta bị con cái, bạn bè xem là kẻ điên. Là một kỹ sư thất nghiệp đầu óc có vấn đề, ta trở thành trò cười cho thiên hạ. Trong mắt đám người phàm phu tục tử, ta chẳng khác gì một ông già điên. Bọn họ không đủ khả năng để hiểu những giấc mơ vĩ đại. Họ chỉ biết rằng một cộng hai là ba. Họ không biết rằng ba có thể thành tám hoặc mười. Có thể con thấy ta đang nói lố, nhưng sự khinh bỉ mà ta nhận được từ xã hội này cũng giống như sự khinh bỉ mà Copernicus từng phải gánh chịu từ thế giới đương thời.”

Shinichi tròn mắt lắng nghe người cha điên loạn của mình thao thao bất tuyệt. Một người cha vốn kín tiếng, dè dặt, lại có thể tuôn ra một tràng hùng biện như kẻ mắc chứng hoang tưởng cuồng đại, thật là chuyện không tưởng. Cậu bắt đầu hoài nghi tai và mắt của chính mình, như thể mình đang mơ vậy.

Vị tiến sĩ già Igarashi vẫn bước qua bước lại trước mặt con, mặt đỏ bừng, mắt sáng long lanh, nói không ngừng bằng nhiệt huyết như một thanh niên đôi mươi.

“Shinichi, con học ngoại ngữ nên không rành toán học. Con không hiểu được chuyên môn của ta. Nhưng chắc con biết nhiệm vụ của chúng ta – những nhà khoa học – là gì chứ? Đó là biến điều không thể thành có thể. Con người xưa từng mơ được bay như chim. Giấc mơ ấy từng là điều bất khả. Nhưng các nhà khoa học đã biến điều đó thành hiện thực.

Khi con người đã bay nhanh hơn cả chim, thì đối thủ tiếp theo không còn là sinh vật sống mà là vật vô tri: âm thanh. Các nhà khoa học trên thế giới đang vắt óc để vượt qua tốc độ âm thanh. Hiện tại, thứ duy nhất do con người tạo ra có thể vượt âm thanh là đạn pháo. Máy bay đang mơ được bay nhanh như pháo đạn. Bay nhanh hơn âm thanh tức là sẽ không thể nghe thấy âm thanh phía sau mình. Dù có bom nổ sau lưng, cũng không thể nghe thấy tiếng nổ đó. Con hiểu ý ta chứ, Shinichi? Suốt bảy năm qua, ta đã miệt mài vì một mục tiêu: tạo ra trạng thái không có âm thanh phía sau lưng.”

Lúc này, vị tiến sĩ già dừng bước và ngồi xuống ghế cạnh Shinichi. Một người cha nhỏ bé, râu ria rối bù, đối diện với người con trai trắng trẻo, cao ráo – một sự tương phản kỳ lạ.

Ông ngồi cạnh để hạ thấp giọng nói. Rồi ông đột ngột thì thầm như đang tiết lộ một bí mật to lớn.

“Trong lúc miệt mài nghiên cứu như thế, một phép màu đã xảy ra. Nghe đây. Những nhà khoa học tầm thường dù có cố gắng đến mấy, thì trí tuệ của họ cũng chỉ tiến bộ theo cấp số cộng. Họ chỉ có thể nghĩ đến việc tăng công suất động cơ máy bay từ 1000 mã lực lên 1500, rồi 2000 mã lực – chỉ thế thôi.

Nhưng trí óc thiên tài thì tạo ra phép màu. Tư duy của họ phát triển theo cấp số nhân. Không – có khi còn bứt phá như nhảy từ vách đá. Họ có thể nắm bắt được những ý tưởng phi thường ngoài sức tưởng tượng. Những ví dụ lịch sử thì ai cũng biết: Copernicus, Darwin, Einstein.

Sự tiến hóa của sinh vật thường diễn ra theo cấp số cộng, nhưng đôi khi có những bước nhảy vọt – đột biến – như lý thuyết tiến hóa đã chỉ ra. Đó chính là phép màu. Và cái phép màu đó – cái phép màu trong não bộ ấy – đã xảy ra với ta, Shinichi.

Nghe cho kỹ nhé. Ta đã thôi đua tốc độ với âm thanh, mà bắt đầu đua với ánh sáng. Dĩ nhiên, tốc độ ánh sáng vượt xa âm thanh nên đuổi kịp nó vẫn là giấc mơ xa vời. Nhưng điều quan trọng là ta đã thực hiện cú nhảy đó. Con hiểu điều gì xảy ra khi bay với tốc độ bằng ánh sáng không? Đối với người đang bay, thời gian sẽ biến mất. Và nếu bay nhanh hơn ánh sáng, thời gian sẽ đảo ngược. Lịch sử sẽ chạy ngược. Viên đạn sẽ bay ngược từ mục tiêu về nòng súng.

Người Đức từng phát minh siêu pháo bắn tầm cực xa nhờ ý tưởng sử dụng tầng bình lưu – đó là một bước nhảy vách đá. Ý tưởng đưa máy bay vào tầng bình lưu để tăng tốc độ cũng là một phép màu trong não bộ. Ta không thể thờ ơ với điều đó. Nhưng trọng tâm nghiên cứu của ta lại nằm ở động lực học – một đột biến trong động lực. Và ta đã nắm được bí mật ấy.

Ta đã khám phá ra một động lực máy bay còn nhanh hơn cả pháo đạn. Giờ đây, đối thủ của ta chỉ còn lại là ánh sáng. Cơ cấu đó, ngay cả con, ta cũng chưa thể giải thích lúc này. Dù ta có giải thích, con cũng không hiểu được. Cơ cấu ấy được hoàn thành trong đầu ta cách đây một năm. Ta mất thêm nửa năm để chuyển nó thành bản thiết kế chi tiết. Ta đã thức trắng đêm, vật lộn với các con số. Ta đã kiểm tra lại mọi chi tiết. Giờ chỉ còn bắt tay vào chế tạo thử nghiệm mà thôi.”

Giọng của vị tiến sĩ già ngày càng trầm thấp và dồn dập.

“Khoảng ba tháng trước, ta bí mật trình bản thiết kế cho kỹ sư trưởng cao cấp nhất của Cục Kỹ thuật Hàng không. Phải mất tới một tháng rưỡi mới khiến ông ta hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Ta đã đến nhà riêng của ông ta cả trăm lần, tranh luận hàng đêm trong một căn phòng biệt lập, tính toán từng con số. Cuối cùng, người đàn ông nghi ngờ đó – Thiếu tướng Honda, tiến sĩ kỹ thuật – cũng phải công nhận thiết kế của ta là chính xác tuyệt đối. Ngay cả một chuyên gia hàng đầu cũng cần từng đó thời gian và công sức để bị thuyết phục.

Khi xác nhận thiết kế, ông ta cũng như ta lúc nãy – đi quanh phòng không ngừng, hai tay giơ lên trời, kêu rú đầy cảm xúc.

Sau đó, mất thêm một tháng rưỡi nữa để chính phủ chấp thuận kế hoạch chế thử. Thiếu tướng Honda đã thuyết phục các lãnh đạo cấp cao có liên quan, nhưng chẳng ai tin ngay. Động lực mới của ta quá đột phá. Để bóc từng lớp vỏ bọc của sự bất khả thi và chạm tới bản chất của khả thi, người nghe phải thực hiện cú nhảy một thế kỷ trong tư duy.

Nhưng cuối cùng, hôm nay, ta cũng đã đi đến được cuộc họp cuối cùng. Hôm nay là lần đầu tiên ta gặp Bộ trưởng Lục quân và Phó Tổng tham mưu trưởng. Cả hai người đã nghe nói về ý tưởng của ta từ trước, nhưng vì không phải chuyên gia nên để họ gật đầu thông qua phải tốn biết bao công sức. Hôm nay, trong phòng họp của Bộ Lục quân, ta đã phải giảng giải lại lý thuyết suốt ba tiếng. Dù chưa hoàn toàn hiểu hết, nhưng nhờ sự bảo đảm của Cục trưởng Kỹ thuật Hàng không và Thiếu tướng Honda, cuối cùng quyết định đã được thông qua: Dù tốn bao nhiêu tiền cũng không sao, hãy lập tức bắt tay vào chế thử!

Tuy nhiên, bản thiết kế của ta không thể dùng nguyên vẹn được. Cục Kỹ thuật Hàng không đã đưa ra nhiều yêu cầu điều chỉnh chi tiết cơ cấu. Hơn nữa, việc thiết kế tổng thể máy bay không nằm trong khả năng của ta. Ta phải nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia thiết kế khung thân, và phải có sự tham gia của các chuyên gia về hàng không tầng bình lưu. Dù làm việc ngày đêm thì cũng mất hai tháng mới có được bản thiết kế hoàn chỉnh. Trong thời gian đó, một biệt thự ở vùng núi tỉnh Nagano – vốn thuộc một gia đình quý tộc – đã được cho mượn để nhóm chúng ta làm việc.

Này, Shinichi, giờ con hiểu tại sao ta lại kích động như vậy chưa? Con có hiểu tại sao Bộ trưởng Lục quân lại tái mặt không? Động cơ của ta, dù không tính đến tầng bình lưu – vùng không có sức cản – mà chỉ bay trong tầng cận bình lưu nơi các máy bay hiện nay vẫn hoạt động, vẫn có thể bay từ Tokyo đến New York chỉ trong năm tiếng. Năm tiếng đó! Shinichi, từng con số trong bản tính toán đã xác minh điều đó. Đó là lý do khiến Thiếu tướng Honda nhảy cẫng lên vì phấn khích!

Hãy thử tưởng tượng – một nghìn máy bay ném bom mới, đồng loạt lao vút vào bầu trời New York. Hãy tưởng tượng cả bầu trời London bị che phủ. Không phải con đã nghe thấy tiếng reo mừng vỡ òa của nhân dân sao? Và giờ con hiểu ta là ai chưa? Nào, Shinichi, rốt cuộc ta là ai?”

Vị tiến sĩ già lại đứng bật dậy khỏi ghế, tiếp tục đi vòng quanh phòng. Như thể đang xông vào kẻ địch vô hình, ông vừa vung nắm đấm vừa đi không ngừng nghỉ.

Dự cảm

Sự phấn khích trẻ trung vô tư của vị lão tiến sĩ, sau khoảng ba mươi phút, đã dịu xuống phần nào.

“Wahaha, từ khi con có nhận thức đến giờ, chắc chưa từng thấy ta vung tay múa chân hay la hét sôi nổi đến vậy phải không? Bản thân ta cũng có cảm giác như đã trở về thời học trung học đấy.

Shinichi, vừa rồi ta bỗng nhớ ra một chuyện kỳ lạ. Khi còn bé, bà nội con thường kể cho ta nghe chuyện xổ số thời xưa. Những kẻ trúng giải nhất trăm lượng gì đó, vì quá mừng mà phát điên. Niềm vui tột độ có thể khiến con người hóa điên – có lẽ đêm nay ta cũng hơi mất trí thật.

Việc công nghệ hàng không do trí tuệ con người tạo ra không ngừng tiến bộ, có thể nói là một tất yếu mang tính định mệnh. Phát hiện lần này cũng vậy – nếu không phải ta thì sớm muộn gì cũng có ai đó phát hiện ra. Ta chỉ là người may mắn đi trước mà thôi. Nhưng dù sao cũng là may mắn. Nhất là khi giữa thời chiến như thế này, một người Nhật như ta lại phát minh ra điều đó – có cảm giác như đó là thiên ý thiêng liêng. Bỏ qua chuyện bản thân ta đi – nghe có vẻ ngạo mạn – nhưng đây là một vận may lớn lao cho cả đất nước. Tốc độ bay mới, có thể bay vòng quanh Trái đất trong mười tiếng, chắc chắn sẽ có sức mạnh xoay chuyển cục diện chiến tranh. Ngay cả những người đứng đầu về chiến thuật hôm nay cũng đã xác nhận điều đó.

Xoay chuyển cục diện chiến tranh hiện tại – tức là thay đổi lịch sử. Là sáng tạo ra lịch sử mới. Một kỹ sư Nhật tên Igarashi Tōzō – một lão già chưa tới năm thước như ta – sẽ là người làm thay đổi lịch sử thế giới. Này Shinichi, nếu ta có hơi mất trí cũng chẳng lạ gì đúng không?”

Trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh ghế dài, có hai chén trà đựng đầy trà bancha, vừa được cô hầu gái mang vào. Vị tiến sĩ cầm lấy một chén, uống cạn trong một hơi, rồi khoanh tay nhắm mắt, lặng lẽ ngả người vào chiếc ghế dài.

Shinichi, từ nãy giờ chỉ toàn làm người nghe, lúc này xoay hẳn người về phía cha, bắt đầu nói với giọng có phần nghiêm túc:

“Con vẫn chưa thể hiểu hết đâu. Con không rành về khoa học, mà đây lại là vấn đề lớn như trong mơ vậy. Nhưng con tin lời cha nói. Và con tự hào vì là con trai của cha.

Con biết cha đã phải vật lộn với một vấn đề khoa học khó nhằn suốt bao năm qua. Nhưng chẳng ai nghĩ nó lại là một vấn đề lớn lao đến vậy.

Mẹ con vì sĩ diện với thiên hạ nên từng càm ràm đủ điều. Ngay cả con, trong lòng cũng không thể hoàn toàn phản đối mẹ được. Cha, xin hãy tha thứ cho con. Con xin lỗi.

Việc phát minh của cha có thể thay đổi lịch sử thế giới – với một người bình thường như con thì vẫn còn mơ hồ lắm. Nó quá lớn, đến mức con không thể nắm bắt được ý nghĩa. Nhưng con sẽ vui vẻ làm trợ lý cho cha. Ngày mai con sẽ nộp đơn xin nghỉ việc ở Cảnh sát Đô thành.”

“Ừ, vậy là tốt rồi. Trong lúc làm trợ lý cho ta, rồi con sẽ dần hiểu được: các nhà khoa học đã làm thay đổi lịch sử như thế nào.”

Vị tiến sĩ già nhắm mắt, trả lời nhẹ nhàng. Sự phấn khích cuồng nhiệt ban nãy dường như đã tan biến hẳn.

“Này cha, thực ra nãy giờ con có một điều muốn nhắc nhở.”

Shinichi hạ thấp giọng, vẻ mặt trở nên nghiêm nghị.

“Ừ, chuyện gì vậy?”

“Con lo rằng, phát minh trọng đại của cha có thể bị lọt vào tay địch.”

“Chuyện đó không sao đâu. Người mà ta đã tiết lộ chuyện này – tính cả con – chỉ có bảy người. Hơn nữa, trong số đó, năm người không phải chuyên gia, nên cũng không hiểu rõ phát minh này. Con cũng nằm trong số đó.

Hai người còn lại – chính là Thiếu tướng Honda mà ta đã kể, và một kỹ sư giỏi khác làm cùng cơ quan – hai người này thì hiểu khá rõ. Nếu không có họ, phát minh này đã không được Lục quân thông qua.

Tuy nhiên, ngay cả hai người đó, dù hiểu, cũng không thể thiết kế thay ta. Phần cốt lõi nhất trong phát minh này chỉ có mình ta nắm rõ. Nó không hề thể hiện trên bản vẽ. Nguyên lý nền tảng chỉ được trình bày một cách rất trừu tượng. Để cụ thể hóa nguyên lý đó, ta đã mất tròn ba năm miệt mài nghiên cứu. Thậm chí, nếu không có một may mắn hi hữu, ta đã không thể hoàn thành nó. Nói cách khác, phần then chốt nhất của phát minh này chỉ tồn tại trong đầu ta mà thôi.”

“Vậy thì chắc là an toàn rồi. Nhưng dù chỉ là nguyên lý đi nữa, nếu bị địch biết thì cũng gây bất lợi lớn về mặt chiến lược.”

“Shinichi, chắc do làm ở Cảnh sát Đô thành nên con đa nghi quá. Con nghĩ rằng quân nhân đế quốc – những người nắm giữ kỹ thuật tối quan trọng – lại có thể phản quốc sao?”

Nghe đến đó, Shinichi vội xua tay.

“Không, con không có ý nói vậy. Ý con là: ngoài bảy người đó, liệu còn ai biết chuyện này nữa hay không?”

“Dĩ nhiên là không có ai cả.”

“Cha bảo con đa nghi, nhưng thật ra là cha chưa hiểu hết kỹ thuật tình báo hiện đại. Tình báo cũng là một dạng khoa học. Những việc tưởng như bất khả thi, họ vẫn có thể làm được nhờ công nghệ. Họ biến không thể thành có thể.”

Shinichi hơi đỏ mặt, nói đầy nhiệt huyết.

“Cha bảo rằng đã mất một tháng rưỡi để thuyết phục Thiếu tướng Honda đúng không? Hẳn cha đã đến nhà ông ấy nhiều lần. Ở đó có gia đình, có người hầu, đúng không? Còn trong cơ quan thì có nhân viên, có người chạy việc. Những người đó có thể đã mang trà vào phòng, hoặc được gọi đến khi cần gì đó. Ai dám chắc họ không vô tình nghe lén một đoạn quan trọng nào?

Cũng có thể có người cố tình nghe trộm. Một gián điệp chuyên nghiệp hoàn toàn có thể gắn micro vào một chỗ khó nhận thấy trong phòng, rồi nghe lén từ xa.”

Vị tiến sĩ già chớp mắt sau cặp kính lão cổ lỗ.

“Hừm, đúng là tay được đào tạo từ Cảnh sát Đô thành có khác. Nhưng giả sử có tên phản quốc người Nhật thật đi nữa – thì cũng không còn đường nào để liên lạc với địch. Trong nước bây giờ, không còn một người nước ngoài nào sống tự do cả.”

“Còn công dân các nước trung lập thì sao? Trong số đó chắc gì không có người có thân thế mờ ám. Rồi còn cả người Trung Quốc từ Trùng Khánh xâm nhập vào nữa – cũng không thể loại trừ.

Con tuy mới làm phiên dịch cho Phòng Ngoại vụ của Cảnh sát Đô thành hơn một năm, nhưng cũng đã chứng kiến khá nhiều vụ thực tế. Gián điệp là thứ không thể xem thường. Chúng như những ảo thuật gia vậy. Dù là kẽ hở nhỏ đến đâu cũng chui qua được, rồi lập tức giăng mạng lưới tình báo. Nếu nghĩ rằng trong nước hiện tại không có gián điệp địch thì thật sai lầm. Nói không ngoa thì: gián điệp hữu hình và vô hình đang nhung nhúc khắp nơi trong nước.”

Vị tiến sĩ già đứng dậy khỏi ghế dài, ưỡn thẳng tấm lưng cong, giơ hai tay lên quá đầu, làm động tác như thể đang tập thể dục.

“Ừ, hiểu rồi, hiểu rồi. Theo trí nhớ của ta, đến giờ chưa từng bị nghe lén đâu. Nhưng từ nay trở đi, nhất định phải cẩn thận hơn. Mà con là chuyên gia trong chuyện này, đã làm trợ lý cho ta rồi thì cũng yên tâm phần nào.”

“Vâng, con không giúp được gì trong thiết kế, nhưng ở khoản này thì có thể hỗ trợ chút ít. Từ nay con sẽ hết sức chú ý. Xem như con là người bảo vệ phát minh của cha vậy.”

Hai cha con nhìn nhau, bật cười lớn.

Vị tiến sĩ già cẩn thận ôm chiếc cặp da to tướng vào nách, lui về phòng ngủ. Còn lại một mình, Shinichi ngồi im trên ghế dài suốt một thời gian dài, không nhúc nhích. Có lẽ lúc này, cậu mới bắt đầu nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của phát minh của cha. Và rằng, phát minh đó có thể quyết định vận mệnh của cả thế giới. Khuôn mặt tuấn tú của cậu hơi tái đi, trán trắng và sống mũi cao lấm tấm mồ hôi, đôi mắt vô hồn cứ thế nhìn vào khoảng không ba thước trước mặt, không rời.

Cuộc mật đàm trong Nhà Trắng

Tổng thống Roosevelt bước vào phòng riêng trên tầng lầu Nhà Trắng, đóng cửa kín mít, rồi lê từng bước chân như trẻ nhỏ, lảo đảo đến chiếc ghế bành và đổ người xuống đệm sâu mềm mại. Bên ngoài cửa hẳn vẫn là tên cận vệ khổng lồ từng là võ sĩ quyền anh, kẻ luôn bám lấy ông như hình với bóng từ khi chiến tranh nổ ra, đứng khoanh tay, đôi môi dày mím thành hình chữ nhân – như mọi khi. Nhưng trong căn phòng này thì không có ai cả. Tổng thống cuối cùng đã có thể ở một mình.

Ông rất mệt mỏi. Vốn luôn tự hào rằng mình không biết mệt là gì, giờ đây ông buộc phải thừa nhận rằng sức mạnh thể chất và tinh thần của con người có giới hạn. Bệnh bại liệt phần thân dưới – căn bệnh bẩm sinh – lại tái phát. Dù chưa đến mức phải quay lại với chiếc xe lăn, nhưng khi đi xa, ông bắt buộc phải chống gậy, nếu không sẽ dễ bị ngã. Trước đây, ông luôn lạc quan đối mặt với điều đó, nhưng gần đây, đôi khi ông bị xâm chiếm bởi một cảm giác kỳ lạ: nỗi bất an lạnh buốt, như thể một bóng ma, rằng khiếm khuyết thể chất – từ thắt lưng trở xuống – đang âm thầm khiến tinh thần ông cũng trở nên tật nguyền.

Vùi mình trong chiếc ghế lớn, ông chống khuỷu tay ra hai bên, áp mu bàn tay vào mắt, chà xát mi mắt thâm quầng và chảy xệ. Đây chỉ là một thói quen của ông, nhưng nhìn tư thế kiệt sức đó, người ta dễ lầm tưởng ông đang khóc như một đứa trẻ.

Kệ hồ sơ trong trí não ông lúc này như sắp nổ tung bởi vô số tài liệu trọng yếu. Trong số đó, một phần công việc lớn nhất của ông là phải rút ra những tài liệu ít quan trọng hơn để xé bỏ, lãng quên. Nếu không, sẽ chẳng còn chỗ chứa những thông tin cấp thiết mới.

Trong giá còn vài hồ sơ được đánh dấu đỏ. Chúng là những sự việc trong và ngoài nước – khắc sâu trong não ông – không thể quên, luôn đè nặng lên tâm trí ông với áp lực khác thường. Trong số đó, tập hồ sơ mang tiêu đề “Nihon – Nhật Bản” là thứ đặc biệt nặng nề và gây áp lực nhất.

Ông từng khinh thường năng lực kinh tế và sản xuất của Nhật. So với tính cách dân tộc của người Mỹ, ông cho rằng người Nhật sẽ sớm buông xuôi. Thế nhưng gần đây, những thông tin mật đổ về từ mọi phía lại khiến niềm tin đó bắt đầu lung lay. Ông lo rằng sự yếu kém về kinh tế của Nhật có thể được bù đắp quá đủ bởi lòng trung thành và sức chịu đựng khó dò của người dân nước này. Ngay cả tâm trí vốn lạc quan của ông cũng bắt đầu xuất hiện những đám mây đen bất tường.

Nhưng điều đáng sợ hơn cả là số lượng và chất lượng con người mà Nhật sở hữu. Ở Mỹ, huy động nhân lực đã gần như đến cực hạn, trong khi tại Nhật, thanh niên dưới hai mươi tuổi vẫn chưa bị triệu tập vào quân đội. “Trong cái đảo bé tẹo đó, từ tuổi mười bảy đến hai mươi, vẫn còn hàng đàn trai trẻ chưa động đến, đang chờ đợi như đám ruồi bâu kín!” – câu nói cửa miệng của Tổng tham mưu trưởng Marshall lại vang lên trong đầu ông, như lời cảnh báo.

Về mặt số lượng đã đáng sợ, nhưng chất lượng lại càng gây bất an. Người Nhật dường như sở hữu một sức mạnh huyền bí mà khoa học phương Tây không thể lý giải. “Ngay cả khi biết chắc sẽ chết, bọn chúng vẫn lao thẳng vào cái chết, chẳng màng gì cả. Chúng là quái vật. Chúng coi chuyện mổ bụng tự sát là một nghi lễ trang nghiêm. Đó là dân tộc mà chúng ta không thể hiểu nổi bằng tâm lý thông thường.” – Roosevelt nhớ lại lời của một vị tướng đã trở về từ tiền tuyến, với vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng.

Tổng thống lại áp mu bàn tay lên mi mắt chà xát lần nữa. Rồi như muốn xua tan nỗi bất an trong lòng, ông vỗ nhẹ lên tay ghế bằng lòng bàn tay to lớn, đưa mắt nhìn quanh phòng. Trên bàn có mô hình tàu chiến cổ, trên tường là bánh lái tàu, trong khung tranh là hình ảnh các loại tàu thuyền qua các thời kỳ, những ký ức vui vẻ về du thuyền và câu cá ở vịnh Bahamas chợt ùa về. Nhưng giờ đây, những niềm vui ấy chỉ còn là giấc mộng xa xưa. Ông đã lâu không còn lui tới biệt thự ở Warm Springs. Thậm chí thời gian để tắm nước nóng trị liệu cũng không còn.

Tối nay, dù công việc chính thức đã xong, ông vẫn chưa thể về phòng ngủ. Bởi mới đây, đích thân Bộ trưởng Lục quân Stimson đã gọi điện báo sẽ cùng Giám đốc Cục Mật vụ Quân đội O’Brien đến trình báo một việc quan trọng. Và Roosevelt đã đáp rằng sẽ chờ trong phòng riêng trên lầu.

Tổng thống lấy một chiếc tẩu to trong túi, nhét thuốc, bật lửa châm lửa. Ngậm tẩu rít vài hơi, ông chống hai tay lên tay ghế, dùng sức nâng thân thể nặng nề đứng dậy, lảo đảo bước đến bên cửa sổ, vạch nhẹ rèm dày ra để nhìn xuống bãi cỏ trong khu vườn tối đen như mực.

Dù lệnh giới nghiêm ánh sáng trong thành phố gần đây đã được nới lỏng vì mục đích tuyên truyền đối ngoại, nhưng xung quanh Nhà Trắng vẫn gần như tối như trong tình trạng báo động không kích. Ngoài vài chiếc đèn lân quang mờ nhạt lập lòe trong vườn, là cả một màn đêm như bị tưới mực. Khi mắt quen dần với bóng tối, ông có thể nhận ra những bóng đen nhúc nhích, còn đen hơn cả đêm – đó là các lính gác đang vây quanh bảo vệ ông từ xa.

Roosevelt vẫn ngậm tẩu, chặc lưỡi đầy bực bội. Ông cảm thấy như một tội phạm nguy hiểm bị cảnh sát bao vây – một ảo giác đầy khó chịu. Ngoài hành lang, tên vệ sĩ quyền anh vẫn đứng nghiêm mặt. Ở cầu thang, dưới hành lang, lính gác dày đặc. Mà người ông đang chờ đợi lại là giám đốc cục mật vụ quân đội. Là một tổng thống cởi mở, ông cực kỳ ghét bầu không khí ngột ngạt bị đè nén như thế.

Khi ông bắt đầu thấy cáu, thì cuối cùng cánh cửa cũng mở. Bộ trưởng Stimson bước vào, theo sau là một người đàn ông khoảng bốn mươi lăm – bốn mươi sáu tuổi, rất cao và gầy. Cả hai mặc vest. Tổng thống chăm chú nhìn gương mặt của giám đốc O’Brien đang đứng kính cẩn. Dù có biết mặt, nhưng gần như chưa từng nói chuyện trực tiếp, nên ông cũng không biết nhiều gì hơn ngoài những lời đồn. Một người gầy, lạnh lùng như thép.

“Cách đây một giờ, Cục Mật vụ nhận được một điện tín quan trọng từ điệp viên F3. Tôi muốn chính miệng O’Brien báo cáo lại với Ngài.” – Bộ trưởng Stimson nói nhỏ, bước sát lại gần tổng thống.

“F3, tức là người ở Tokyo?”

Roosevelt vừa trở lại ghế ngồi vừa hỏi khẽ. Ông đã nhiều lần nghe nói điệp viên F3 là một nhân vật đặc biệt quan trọng trong mạng lưới tình báo Mỹ toàn cầu.

Cả ba người ngồi thành thế chân vạc giữa phòng, bắt đầu thì thầm bằng giọng nhỏ đến mức dù có người rình sau vách tường cũng không thể nghe rõ. Người đầu tiên cất lời là O’Brien.

“Khoa học hàng không Nhật Bản đã phát triển vượt ngoài dự đoán của chúng ta – đó vốn đã là một điều khiến chúng ta kinh ngạc. Nhưng bức điện mật hôm nay lại còn mang đến một thông tin gây sốc hơn nữa. Trong giới khoa học dân sự của Nhật đã xuất hiện một nhân vật kinh hoàng. Phát minh mà ông ta dày công nghiên cứu suốt nhiều năm đã được Lục quân Nhật thông qua. Hiện ông ta đang cùng vài nhà khoa học quân đội ẩn cư trong núi, triển khai vẽ thiết kế. Nghe nói việc chế thử máy bay cũng sắp bắt đầu.”

“Tốc độ thì sao?” – Tổng thống chau mày hỏi, vừa nói vừa kéo tai.

“Bay từ Tokyo sang Washington chỉ trong năm tiếng.”

“Năm tiếng à?”

Roosevelt vẫn kéo tai, mặt càng nhăn hơn, để lộ hàm răng đều đặn to lớn, bật ra giọng như nghiến răng.

“Vâng. Ít nhất là trong điện tín của F3 đã xác nhận như vậy. Ngài hẳn biết con người F3 thế nào. Anh ta chưa bao giờ báo cáo sai. Trong khi chúng ta còn chưa hoàn thiện máy bay ném bom tầng bình lưu, thì tên phù thủy Nhật Bản đó đã nghĩ ra thứ vượt trội hơn. Theo điện báo, điểm mấu chốt của phát minh nằm ở động lực. Chi tiết cụ thể thì dĩ nhiên chưa rõ. Các nhà khoa học trẻ của tôi cho rằng ngoài tên lửa ra thì không thể có thứ gì đạt được tốc độ đó. Nhưng rốt cuộc có phải tên lửa hay không, thì chưa thể kết luận. Dù sao thì, tốc độ ấy là không thể xem thường.”

“Lộ trình điện tín?”

Tổng thống vẫn chưa dễ dàng tin vào bản tin tựa như một giấc mộng.

“Vẫn như mọi lần, qua quốc gia trung lập bằng mật mã. Điểm trung chuyển là mật hiệu H32 tại thành phố S. Không nghi ngờ gì – xuất phát từ F3.”

“Hừm… Vậy Bộ trưởng nghĩ sao?”

Tổng thống chống khuỷu tay lên đầu gối, chống cằm bằng ngón cái và ngón trỏ, nhìn Stimson bằng ánh mắt thản nhiên đến đáng sợ. Ông vốn có thói quen – qua năm tháng luyện tập – rằng mỗi khi nhận tin bất lợi, ông sẽ nở một nụ cười bình thản, cao ngạo. Giờ đây, nụ cười ấy vẫn lơ lửng trên mép ông.

“Hiện vật chưa ra đời. Đã nhiều lần chúng ta thấy những thiết kế chỉ nằm trên giấy. Tuy nhiên, như tôi từng nói, F3 là một người rất đặc biệt. Anh ta chưa từng nói dối. Theo điện tín, các kỹ sư hàng đầu Nhật Bản đã xác nhận thiết kế, và Lục quân đã chính thức thông qua. Không thể coi thường được. Người Nhật thực sự là một dân tộc sâu không đáy và đầy bất trắc.”

Trong đôi mắt sáng của Bộ trưởng Lục quân, thoáng hiện nét sợ hãi. Một thứ cảm giác sợ hãi thần bí mà tất cả người phương Tây đều mang trong mình khi nghĩ đến Nhật Bản – lúc này đang bao trùm cả tâm hồn chính trị gia già dặn này.

“Vậy còn điện hồi đáp cho F3?”

Tổng thống hỏi ngắn gọn, mặt không biến sắc.

“Dĩ nhiên cần chỉ thị từ Ngài. Tôi đến đây để nhận lệnh.”

O’Brien vẫn giữ giọng kính cẩn.

“Ừm. Rất tốt. Bằng mọi cách, phải đưa được bản thiết kế đó về Washington. Nếu không thể, hãy thiêu hủy toàn bộ bản vẽ và tài liệu liên quan. Và đương nhiên, tất cả những ai dính líu đến bí mật đó – bao gồm cả người phát minh – đều phải lên thiên đàng. Họ phải bị xóa khỏi thế giới này. Thưa Bộ trưởng, đó là ý kiến của tôi.”

“Tôi hoàn toàn đồng ý. Nhưng đó là một nhiệm vụ khủng khiếp. F3 lần này sẽ phải dấn thân vào sứ mệnh sinh tử.”

Bộ trưởng Lục quân nhìn thẳng vào Tổng thống với vẻ nghiêm trọng.

O’Brien không ngu ngốc đến mức ghi chép mệnh lệnh đó vào sổ tay. Ông chỉ nhắc lại mệnh lệnh bằng lời, rồi lập tức đứng dậy trở về văn phòng. Bộ trưởng Lục quân cũng đứng lên. Tổng thống thì chống hai tay lên tay ghế, gắng sức đứng dậy, vẫn giữ nụ cười cao ngạo thường thấy, không nói lời nào, bắt tay cả hai và bước chậm rãi, như trẻ nhỏ tập đi, tiễn họ ra cửa.

Vì hai người kia đang quay lưng đi về phía cửa nên họ không hiểu điều gì vừa xảy ra. Bỗng họ nghe một tiếng “bịch!” nặng nề vang lên, tiếp sau đó là một tràng cười the thé chói tai vang dội.

Cả hai giật mình quay lại – và chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: Tổng thống Roosevelt đang ngã chỏng vó trên tấm thảm sang trọng, mông đập xuống đất một cách thảm hại.

Hai người vội vã chạy đến, định đỡ ông dậy, nhưng ông phất tay lớn tiếng: “Không sao, không sao!” và tiếp tục phá lên cười như điên. Cơn ngã do chứng bại liệt phần dưới gây ra này khiến ông thấy buồn cười đến mức không chịu nổi. Ông vặn vẹo thân thể, mặt đỏ như gấc, để lộ hàm răng lớn đều tăm tắp, cười không dứt như thể bị ma nhập.