CHƯƠNG I – DẤU HIỆU
Gọi tôi là Ishmael. Vài năm trước—đừng bận tâm chính xác là bao lâu—khi trong túi chẳng còn bao nhiêu tiền, và chẳng có điều gì đặc biệt giữ chân tôi trên đất liền, tôi đã nảy ra ý định ra khơi, đi đây đi đó trên phần nước của thế giới. Đó là cách tôi xua tan u uất và điều hòa huyết mạch. Mỗi khi thấy miệng mình bắt đầu mím lại ủ ê; mỗi khi linh hồn tôi chìm trong một tháng Mười Một ẩm ướt, mưa phùn; mỗi khi tôi vô thức đứng lặng trước những cửa hàng bán quan tài, hay chậm bước sau mỗi đám tang đi ngang qua; và đặc biệt là khi chứng u uất trong tôi mạnh đến mức cần tới cả một nguyên tắc đạo đức vững vàng mới ngăn tôi không bước thẳng ra đường và thản nhiên hất bay mũ của người khác—thì ấy là lúc tôi thấy mình cần ra khơi càng sớm càng tốt. Đó là lựa chọn của tôi thay vì dùng súng và đạn. Với một cái nhướng mày đầy triết lý, Cato đâm mình bằng gươm; còn tôi lặng lẽ lên tàu. Chuyện này chẳng có gì lạ lùng cả. Nếu người ta hiểu được, thì hầu như ai rồi cũng, vào lúc nào đó trong đời, từng mang trong lòng cảm giác tương tự như tôi đối với biển cả.
Kìa, thành phố đảo của Manhattoes, bao quanh bởi những cầu cảng như đảo san hô vây lấy đảo Ấn Độ—thương nghiệp vây lấy nó bằng làn sóng của mình. Hai bên đường phố, lối nào cũng dẫn về phía nước. Tận cùng phía nam là Battery, nơi mỏm đất cao quý ấy được sóng vỗ và gió mát—những luồng gió mới chỉ vài giờ trước còn chưa nhìn thấy đất liền—làm dịu mát. Hãy nhìn dòng người chen chúc đến đó để ngắm nhìn nước biển.
Hãy thử đi vòng quanh thành phố vào một chiều Chủ Nhật mơ màng. Từ Corlears Hook đến Coenties Slip, rồi men theo Whitehall đi lên phía bắc. Bạn sẽ thấy gì?—Khắp thành phố, như những người lính gác im lìm, là hàng ngàn hàng vạn con người đang chìm đắm trong những suy tưởng về đại dương. Có người tựa vào cọc gỗ; có người ngồi trên đầu cầu tàu; có người nhìn ra từ mạn tàu Trung Hoa; có người trèo lên tận đỉnh buồm, như thể cố ngắm nhìn biển rộng thêm chút nữa. Nhưng tất cả bọn họ đều là dân đất liền; suốt tuần bị nhốt trong những bức tường vữa vôi—bị trói vào quầy hàng, bị đóng đinh vào ghế dài, bị khóa chặt vào bàn giấy. Vậy sao họ lại ở đây? Những cánh đồng xanh biến đâu rồi? Họ đến đây làm gì?
Nhưng kìa! lại thêm những dòng người đổ thẳng về phía biển, như thể sắp nhảy xuống nước. Thật kỳ lạ! Họ chỉ thỏa mãn khi đứng ở tận cùng ranh giới đất liền; đứng nép mình dưới bóng râm của kho hàng kia không đủ. Không. Họ phải tiến gần sát mép nước hết mức có thể mà không rơi xuống. Và ở đó họ đứng—hàng dặm người—hàng hải lý. Tất cả đều là dân đất liền, họ đến từ ngõ ngách, hẻm hẹp, phố xá và đại lộ—từ bốn phương trời. Thế mà họ tụ họp tại đây. Hãy nói cho tôi biết, phải chăng sức hút từ kim la bàn của mọi con tàu kia đang kéo họ đến?
Lại nữa. Giả như bạn đang ở vùng quê; nơi miền cao với những hồ nước. Hãy đi bất kỳ lối mòn nào bạn muốn, và có đến chín phần mười khả năng bạn sẽ bị dẫn xuống một thung lũng, nơi có dòng suối và một ao nước. Có phép thuật gì đó trong chuyện này. Ngay cả kẻ lơ đãng nhất, nếu đang mải mê suy tưởng, bạn cứ dựng anh ta dậy, để anh ta đi, và chắc chắn anh ta sẽ dẫn bạn đến nước—nếu ở vùng ấy có nước. Nếu một ngày nào đó bạn khát cháy cổ giữa sa mạc lớn của nước Mỹ, hãy thử nghiệm điều này, miễn là đoàn lữ hành của bạn có mang theo một giáo sư triết học. Vâng, như ai cũng biết, suy tưởng và nước là đôi bạn trăm năm không rời.
Còn đây là một họa sĩ. Anh ta muốn vẽ một góc phong cảnh mộng mơ, râm mát, yên bình và nên thơ nhất trong cả thung lũng Saco. Yếu tố chính mà anh ta dùng là gì? Kìa là hàng cây, thân rỗng như thể bên trong có một ẩn sĩ cùng cây thánh giá; đây là đồng cỏ nơi gia súc đang ngủ; và kia là làn khói lững lờ từ túp lều xa xa. Một lối mòn uốn lượn dẫn sâu vào rừng, tới những dãy núi xanh mờ. Nhưng dù bức tranh có thôi miên thế nào, và dù cây thông kia rụng xuống những tiếng thở dài như rơi lá lên đầu người mục tử, thì tất cả vẫn vô ích, nếu mắt người mục tử không hướng về dòng suối diệu kỳ trước mặt. Hãy đến thăm vùng đồng bằng vào tháng Sáu, khi hàng chục dặm đường bạn ngập trong rừng hoa huệ hổ—nhưng điều gì thiếu vắng ở đó?—Nước—không một giọt nước! Nếu thác Niagara chỉ là cát đổ, bạn có vượt ngàn dặm để đến xem? Tại sao nhà thơ nghèo xứ Tennessee, khi bất ngờ nhận được hai nắm bạc, lại đắn đo không biết nên mua cái áo khoác đang rất cần, hay dùng tiền đó để đi bộ đến bãi biển Rockaway? Tại sao hầu hết những cậu bé khỏe mạnh và đầy sức sống, vào một thời điểm nào đó, đều phát điên lên muốn ra khơi? Tại sao trong chuyến đi biển đầu tiên của bạn, khi được báo rằng bạn và con tàu đã ra khỏi tầm mắt đất liền, bạn lại cảm thấy rung động đến lạ? Tại sao người Ba Tư xưa coi biển là thiêng liêng? Tại sao người Hy Lạp phong cho biển một vị thần riêng, lại còn là anh em ruột của thần Dớt? Chắc chắn tất cả những điều này không phải là vô nghĩa. Và sâu xa hơn cả là câu chuyện về Narcissus, người vì không chạm được hình ảnh dịu dàng nhưng ám ảnh trong suối nước mà đã lao vào đó và chết chìm. Nhưng chính hình ảnh ấy, chúng ta vẫn thấy trong mọi con sông và đại dương. Đó là hình bóng của cái bóng không thể nắm bắt của đời sống; và đó chính là chiếc chìa khóa của tất cả.
Giờ thì, khi tôi nói rằng tôi có thói quen ra khơi mỗi khi mắt bắt đầu trở nên mờ đục và bắt đầu ý thức quá rõ ràng về lá phổi của mình, tôi không có ý để bạn hiểu rằng tôi bao giờ cũng đi biển với tư cách hành khách. Bởi để đi với tư cách hành khách thì bạn phải có tiền, và cái ví chẳng là gì ngoài một mảnh giẻ nếu bên trong rỗng tuếch. Hơn nữa, hành khách thì dễ say sóng—hay cãi vã—mất ngủ cả đêm—nói chung là chẳng hưởng thụ được mấy;—không, tôi chưa từng đi với tư cách hành khách; và dù tôi cũng có chút dạn dày sóng gió, tôi cũng chẳng bao giờ ra khơi với tư cách một Đô đốc, một Thuyền trưởng, hay một Đầu bếp. Tôi để lại vinh quang và danh giá của những chức vụ ấy cho những ai ưa thích chúng. Phần tôi, tôi ghét cay ghét đắng mọi công việc lương thiện, đáng kính, cùng với những gian nan và khổ ải đủ loại. Tôi tự lo cho mình còn chưa xong, hơi đâu mà gánh thêm trách nhiệm lo cho tàu, cho thuyền, cho thuyền buồm ba cột hay hai cột, hay những thứ tương tự. Còn đi biển làm đầu bếp—dù tôi thừa nhận nghề đó cũng có phần vinh quang, bởi đầu bếp cũng là một kiểu sĩ quan trên tàu—nhưng mà, không hiểu sao, tôi chẳng hề có chút hứng thú nào với việc nướng gà;—dù tôi cũng phải nói rằng, một khi gà đã được nướng chín kỹ, bôi bơ vừa phải, rắc muối tiêu hợp lý, thì không ai có thể nói về món gà nướng một cách tôn trọng, thậm chí gần như thành kính, như tôi. Có lẽ chính từ sự sùng bái quá mức của người Ai Cập cổ đối với món chim thần nướng và hà mã quay, mà ngày nay người ta mới tìm thấy xác ướp của mấy con đó trong những lò nướng khổng lồ gọi là Kim tự tháp.
Không, khi tôi ra khơi, tôi đi như một thủy thủ bình thường, làm việc ngay mũi tàu, ngủ dưới khoang thủy thủ, và trèo lên tận đỉnh cột buồm lớn. Đúng là họ có ra lệnh cho tôi một chút, bắt tôi nhảy từ xà ngang này sang xà ngang khác như châu chấu trong đồng cỏ tháng Năm. Và ban đầu, kiểu công việc như thế cũng khó chịu lắm. Nó đụng chạm đến lòng tự trọng của người ta, đặc biệt nếu bạn xuất thân từ một gia đình danh giá lâu đời như Van Rensselaers, hay Randolphs, hay Hardicanutes. Nhất là nếu trước đó không lâu bạn còn là thầy giáo làng, khiến những cậu học trò cao lớn nhất cũng phải kính sợ. Việc chuyển từ một thầy giáo thành thủy thủ quả là cú sốc, tôi cam đoan đấy, và cần một liều Seneca pha đặc cùng chủ nghĩa Khắc kỷ để bạn vừa cười vừa chịu đựng nổi. Nhưng rồi cũng quen thôi.
Vậy thì sao, nếu một lão thuyền trưởng già cỗi nào đó ra lệnh cho tôi lấy chổi quét boong tàu? Cái nhục đó có đáng là bao, nếu đem cân trên cán cân của Tân Ước? Bạn nghĩ Tổng lãnh thiên thần Gabriel có coi thường tôi chỉ vì tôi làm theo lệnh ông ta một cách nhanh chóng và kính cẩn trong việc ấy không? Ai mà chẳng là nô lệ? Hãy nói tôi nghe. Vậy thì, dù mấy lão thuyền trưởng có sai bảo tôi kiểu gì—dù họ có đấm có thúc tôi thế nào đi nữa—tôi vẫn thấy hài lòng khi biết rằng việc đó cũng là lẽ thường; rằng ai rồi cũng bị đối xử như thế—dù là xét về thể xác hay tinh thần; và thế là cú thúc chung ấy cứ truyền vòng quanh, mọi người nên xoa lưng nhau và thấy mãn nguyện.
Thêm nữa, tôi luôn đi biển với tư cách thủy thủ vì ít ra họ còn trả tiền công cho tôi, trong khi hành khách thì chưa bao giờ, theo tôi được biết, được trả một xu nào. Trái lại, chính hành khách mới phải trả tiền. Và đó là sự khác biệt lớn giữa việc được trả tiền và phải trả tiền. Việc trả tiền có lẽ là một trong những cực hình khó chịu nhất mà hai kẻ ăn trộm táo đã để lại cho nhân loại. Còn được trả tiền thì sao? Có gì sánh được với nó? Cái sự vui vẻ nhã nhặn khi một người nhận tiền thật kỳ diệu, nhất là nếu ta nghĩ rằng ai cũng tin tiền là cội rễ của mọi điều xấu trần gian, và rằng người có tiền không tài nào vào được thiên đàng. A! Làm sao mà chúng ta có thể tự nguyện lao vào hư mất một cách vui vẻ đến vậy!
Cuối cùng, tôi luôn đi biển với tư cách thủy thủ là bởi nhờ thế tôi được vận động khỏe mạnh và hít thở bầu không khí tinh sạch ở boong trước. Vì trong thế giới này, gió ngược đầu thường thổi nhiều hơn gió từ phía sau (tức là nếu bạn không vi phạm định lý Pythagoras), nên nói chung ông Đô đốc đứng ở boong sau chỉ được hít khí trời đã qua tay mấy anh thủy thủ boong trước. Ông ta tưởng mình hít trước; nhưng thực ra không phải thế. Cũng như vậy, đám thường dân mới là người dẫn dắt các nhà lãnh đạo trong nhiều chuyện khác, trong khi các lãnh đạo thì ít ai ngờ tới điều đó. Nhưng tại sao sau khi đã nhiều lần ngửi mùi biển với tư cách thủy thủ buôn, giờ đây tôi lại nảy ra ý định đi săn cá voi? Câu hỏi này hẳn phải dành cho viên cảnh sát vô hình của Định Mệnh, kẻ luôn âm thầm theo dõi tôi, lén lút dẫn dắt tôi bằng những cách chẳng sao giải thích nổi—chính hắn mới trả lời được rõ hơn ai hết. Và chắc chắn, chuyến đi săn cá voi này của tôi hẳn là một phần trong đại kế hoạch của Quan Phòng đã được vạch sẵn từ lâu. Nó chen vào như một đoạn chuyển cảnh ngắn và độc tấu giữa những màn trình diễn lớn hơn. Tôi đoán phần kịch bản ấy hẳn đã được viết đại khái thế này:
“CUỘC BẦU CỬ TRANH CHẤP CHỨC TỔNG THỐNG HOA KỲ.
“CHUYẾN ĐI SĂN CÁ VOI CỦA MỘT NGƯỜI TÊN ISHMAEL.
“TRẬN ĐÁM MÁU Ở A PHÚ HÃN.”
Dù tôi không thể giải thích chính xác vì sao mấy gã đạo diễn sân khấu, tức là Số Mệnh, lại phân cho tôi vai nhỏ nhoi này trong một chuyến đi săn cá voi tầm thường, trong khi những người khác thì được giao những vai hoành tráng trong các vở bi kịch lớn, hay những vai ngắn gọn và dễ chịu trong hài kịch thanh lịch, hoặc những vai vui nhộn trong hài kịch kịch tính—dù tôi không rõ vì sao lại như vậy; nhưng giờ khi hồi tưởng lại mọi sự, tôi nghĩ mình có thể phần nào hiểu được những động lực đã khéo léo cải trang để lôi kéo tôi đảm nhận vai diễn ấy, đồng thời dụ dỗ tôi tin rằng đó là lựa chọn xuất phát từ tự do và sự suy xét sáng suốt của chính mình.
Trong số những động lực đó, lớn nhất chính là hình ảnh kinh hoàng và bí ẩn của con cá voi vĩ đại. Một con quái vật đáng sợ và huyền bí như thế đã khơi dậy mọi tò mò trong tôi. Rồi những vùng biển xa xôi, hoang dã nơi nó lượn quanh như một hòn đảo trôi nổi; những hiểm nguy không thể gọi tên gắn liền với loài cá voi; tất cả những điều kỳ diệu kèm theo ấy—với âm thanh và hình ảnh tựa như xứ Patagonia—đã lôi kéo tôi về phía giấc mơ. Với người khác, có lẽ những điều ấy chẳng đủ hấp dẫn; nhưng còn tôi, tôi luôn bị dày vò bởi một nỗi khát khao vô tận với những gì xa xôi. Tôi thích dong buồm đến những vùng biển cấm, thích đặt chân lên những bờ bến hoang sơ. Không phải tôi bỏ qua điều thiện, nhưng tôi rất nhạy cảm với điều khủng khiếp, và vẫn có thể hòa mình với nó—nếu người ta để tôi—vì nói cho cùng, cũng nên thân thiện với mọi sinh linh nơi mình cư trú.
Vì những lẽ đó, chuyến đi săn cá voi là điều được hoan nghênh; những cánh cổng lớn dẫn vào thế giới kỳ diệu mở toang, và trong cơn mơ cuồng đã dẫn tôi tới quyết định ấy, tôi thấy từng đôi từng đôi cá voi trôi vào tận linh hồn tôi như một đoàn diễu hành bất tận—giữa đoàn ấy, nổi bật là một bóng ma khổng lồ đội mũ trùm, trắng xóa như đỉnh tuyết giữa không trung.
CHƯƠNG II – TÚI VẢI DÀI
Tôi nhét một hai cái áo vào chiếc túi vải cũ, kẹp nó dưới cánh tay và lên đường đến mũi Horn và Thái Bình Dương. Rời khỏi thành phố Manhatto già cỗi thân thương, tôi đến nơi cần đến: New Bedford. Lúc ấy là một đêm thứ Bảy tháng Mười Hai. Tôi khá thất vọng khi biết rằng chiếc tàu nhỏ đi Nantucket đã nhổ neo, và rằng sẽ chẳng có cách nào để đến đó cho đến tận thứ Hai tuần sau.
Vì hầu hết những chàng trai trẻ háo hức với cái nghiệp đầy cực nhọc và hình phạt mang tên săn cá voi đều dừng chân tại chính New Bedford này trước khi bắt đầu chuyến đi, nên có thể kể luôn rằng riêng tôi thì hoàn toàn không có ý định làm thế. Tôi đã quyết rồi: chỉ đi trên một con tàu thuộc Nantucket, bởi trong mọi thứ liên quan đến hòn đảo danh tiếng ấy đều có một cái gì đó mạnh mẽ, dữ dội khiến tôi mê mẩn. Dù New Bedford gần đây đã dần chiếm lĩnh ngành nghề săn cá voi, và dù trong chuyện ấy thì tội nghiệp Nantucket giờ đã bị tụt lại phía sau, thì Nantucket vẫn là cội nguồn lớn lao của nghề ấy—là thành Tý-rơ còn New Bedford chỉ là thành Carthage—nơi con cá voi Mỹ đầu tiên bị dạt vào bờ. Còn đâu ngoài Nantucket mà những người thợ săn cá voi nguyên thủy, tức người Da đỏ, lần đầu tiên chèo xuồng ra biển để săn quái ngư Leviathan? Và cũng chính từ Nantucket, chiếc thuyền nhỏ gan góc đầu tiên đã ra khơi, phần nào còn chở theo đá cuội nhập khẩu—nghe kể là vậy—để ném vào cá voi, hòng xem chúng đã đến đủ gần để liệng lao từ mũi thuyền hay chưa?
Giờ thì tôi có một đêm, một ngày, và thêm một đêm nữa ở New Bedford trước khi có thể lên đường đến nơi mong muốn, nên vấn đề trước mắt là tôi sẽ ăn và ngủ ở đâu. Đó là một đêm trông đầy ngờ vực, không—phải nói là tối tăm và thê lương, buốt giá và lạnh lẽo. Tôi chẳng quen ai ở cái thành phố này. Lo lắng, tôi thăm dò túi mình, và chỉ vớ được vài đồng bạc lẻ—Thế thì, Ishmael ơi, tôi tự nhủ, khi đang đứng giữa con phố tiêu điều với cái túi kẹp trên vai, so sánh cái vẻ u ám phương Bắc với bóng tối phương Nam—dù mày chọn ở đâu qua đêm, Ishmael thân mến, nhớ hỏi giá trước và đừng kén chọn quá!
Tôi bước đi chậm rãi trên phố, đi ngang qua quán trọ “Hai Ngọn Lao Giao Nhau”—nhưng nơi đó trông quá sang và vui vẻ. Đi tiếp, từ những ô cửa kính đỏ rực của quán “Cá Kiếm,” ánh sáng hắt ra nồng nhiệt đến mức dường như đã làm tan hết tuyết đóng cứng trước cửa, bởi nơi khác thì băng giá vẫn dày đến mười phân, như lát đá nhựa đường cứng ngắc—một cực hình cho đôi chân tôi, vì đế giày đã mòn te tua sau những tháng ngày lặn lội vất vả. “Lại quá đắt và quá vui vẻ,” tôi nghĩ, đứng lại một chút để ngắm luồng sáng rộng quét qua đường và lắng nghe tiếng ly chạm nhau vang trong nhà. Nhưng rồi tôi tự giục: “Đi đi, Ishmael, nghe chưa? Rời khỏi cửa đi; đôi giày chắp vá của mày đang cản lối người ta đấy.” Thế là tôi lại bước tiếp. Bản năng mách bảo tôi cứ theo những con đường hướng ra phía nước, vì ở đó hẳn sẽ có những quán trọ rẻ nhất—dù không chắc là vui vẻ nhất.
Những con phố thê lương đến vậy! Hai bên như những khối đen đặc, chẳng giống nhà cửa gì cả, và chỉ thỉnh thoảng mới có một ánh nến lập lòe, tựa như cây nến đang đi lại trong mộ. Vào giờ này của đêm cuối tuần, khu ấy của thành phố hầu như vắng tanh. Nhưng rồi tôi bắt gặp một ánh sáng mờ khói tỏa ra từ một tòa nhà thấp, rộng, với cánh cửa mở toang như mời gọi. Nó trông hơi bừa bộn, cứ như thể được dựng nên để phục vụ công chúng; vậy là tôi bước vào, và việc đầu tiên là vấp phải một thùng tro ngay hiên. Ha! tôi nghĩ, ha, khi bụi tro bay tung lên suýt làm tôi nghẹt thở, đây là tro từ thành phố bị hủy diệt kia, Gomorrah, chăng? Nhưng còn “Hai Ngọn Lao Giao Nhau” và “Cá Kiếm” thì sao?—vậy thì nơi này hẳn phải là quán “Cái Bẫy” rồi. Dù thế, tôi cũng đứng dậy, và nghe thấy một giọng to vang lên bên trong, tôi liền đẩy cửa thứ hai, cánh cửa bên trong, mở ra…
Trông như một nghị viện Hắc Ám khổng lồ đang nhóm họp ở Tophet. Hàng trăm gương mặt đen quay lại trong hàng ghế của họ để nhìn; và phía trước, một Thiên thần Tận diệt da đen đang đập cuốn sách trên bục giảng. Đó là một nhà thờ người da đen; và đoạn kinh mà mục sư đang rao giảng là về bóng tối dày đặc, về tiếng khóc than, rên xiết và nghiến răng nơi ấy. “Ha, Ishmael,” tôi lẩm bẩm, lùi bước, “Thật là buổi ‘giải trí’ thảm hại dưới biển hiệu ‘Cái Bẫy’!”
Tiếp tục đi, cuối cùng tôi đến gần bến tàu, bắt gặp một thứ ánh sáng mờ mờ, và nghe thấy tiếng kẽo kẹt hiu quạnh trong không khí; ngẩng lên nhìn, tôi thấy một tấm biển đong đưa trước cửa, trên đó có một bức vẽ mờ mờ màu trắng, đại khái mô tả một cột nước mờ sương bắn thẳng lên trời, bên dưới là dòng chữ: “Quán Trọ Phun Nước:—Peter Coffin.”
Coffin?—Phun nước?—Thật chẳng lành chút nào khi hai từ ấy đi cùng nhau, tôi nghĩ. Nhưng người ta nói đó là một cái tên phổ biến ở Nantucket, và tôi đoán ông Peter này là dân di cư từ đó đến. Vì ánh sáng trông quá mờ, và nơi ấy vào lúc đó có vẻ yên tĩnh, và căn nhà gỗ nhỏ xiêu vẹo ấy trông như thể đã được chở về đây từ đống hoang tàn sau vụ cháy ở đâu đó, và tấm biển đong đưa phát ra tiếng kẽo kẹt nghe nghèo nàn, tôi cho rằng đây hẳn là nơi thích hợp để tìm phòng trọ rẻ, và biết đâu có cà phê đậu Hà Lan pha ngon lành.
Đó là một nơi lạ lùng—một căn nhà cổ đầu hồi, một bên như bị bại liệt, nghiêng nghiêng u buồn. Nó nằm ở một góc phố nhọn và lạnh lẽo, nơi cơn gió bão Euroclydon gào rú dữ dội hơn cả khi nó từng xô đẩy con thuyền tội nghiệp của thánh Phaolô. Dù vậy, Euroclydon vẫn là cơn gió dễ chịu đối với bất kỳ ai đang ngồi ấm áp trong nhà, đặt chân lên bếp lò để sưởi trước giờ đi ngủ. “Khi phán xét về cơn gió dữ mang tên Euroclydon ấy,” một tác giả cổ từng viết—mà tôi đang sở hữu bản duy nhất còn sót lại—“thì có một khác biệt kỳ diệu giữa việc ngươi nhìn nó qua khung cửa kính có băng giá bên ngoài, với việc ngươi quan sát nó từ khung cửa không kính, nơi có băng giá cả hai bên, và nơi mà Tử thần chính là người thợ kính duy nhất.” Quả thật đúng, tôi nghĩ, khi đoạn văn này thoáng hiện lên trong đầu—hỡi văn bản chữ đen cổ xưa, ngươi lý luận rất chí lý. Vâng, đôi mắt này là cửa sổ, và thân xác tôi là căn nhà. Giá như họ biết chèn kín những khe hở và lỗ thủng, nhét thêm ít bông vào đây đó. Nhưng giờ thì đã quá muộn để cải tạo gì nữa rồi. Vũ trụ đã hoàn tất; viên đá chóp đã đặt lên, và những mảnh vụn đã bị chở đi từ cả triệu năm trước. Kia là Lazarus tội nghiệp, đang nghiến răng trên miệng rãnh lát đá, lấy đó làm gối, run rẩy trong giẻ rách. Dù có bịt cả hai tai bằng vải vụn, nhét lõi ngô vào miệng, anh ta vẫn không thể ngăn được gió dữ Euroclydon tràn vào. Euroclydon!—ông lão Dives thốt lên, trong chiếc áo choàng lụa đỏ—(về sau ông ta có cái còn đỏ hơn nữa)—“xì, xì! Một đêm băng giá tuyệt vời; kìa chòm sao Orion lấp lánh; và những dải cực quang phương Bắc thật đẹp!” Cứ để họ nói về xứ sở phương Đông đầy nhà kính vĩnh cửu của họ đi; phần tôi, tôi muốn được tự tạo mùa hè bằng đống than của riêng mình.
Nhưng Lazarus thì nghĩ gì? Liệu anh ta có thể sưởi ấm đôi tay tái xanh bằng cách giơ lên hứng ánh sáng phương Bắc lộng lẫy kia không? Có phải Lazarus thà ở Sumatra còn hơn ở đây? Anh ta chẳng thà nằm dài trên đường xích đạo, vâng, các vị thần ơi! thậm chí bước xuống cả hố lửa địa ngục, chỉ để tránh giá lạnh này?
Mà Lazarus lại phải nằm co ro ngay mép rãnh trước cửa nhà Dives, điều đó còn kỳ lạ hơn cả việc một tảng băng trôi lại mắc cạn ở một trong các đảo Moluccas. Dives thì sao? Chính ông ta cũng sống như một Sa hoàng trong cung điện băng được tạo thành từ những tiếng thở dài đông cứng, và với tư cách chủ tịch hội cấm rượu, ông ta chỉ uống những giọt nước mắt âm ấm của trẻ mồ côi.
Nhưng thôi không lải nhải nữa, chúng ta sắp đi săn cá voi, và rồi sẽ còn nhiều nước mắt hơn nữa. Hãy cạo sạch băng giá khỏi chân, và xem cái nơi gọi là “Quán Phun Nước” này thực sự là thế nào.
CHƯƠNG III – QUÁN PHUN NƯỚC
Bước vào quán Phun Nước với đầu hồi nhọn ấy, bạn sẽ thấy mình đứng trong một hành lang rộng, thấp, ngoằn ngoèo, với vách ốp gỗ kiểu cũ, gợi nhớ đến mạn tàu của một con thuyền cũ kỹ đã bị kết án phá bỏ. Một bên vách treo một bức tranh sơn dầu khổng lồ, đến mức bị khói ám đen sì và hư hỏng đến độ dưới ánh sáng chéo chọeo không đều chiếu vào, chỉ sau nhiều lần quan sát chăm chú, ghé lại thăm đều đặn và tra hỏi kỹ lưỡng những người xung quanh, bạn mới có thể hiểu đại khái ý nghĩa của nó. Những khối tối mù mờ không sao giải thích nổi, khiến ban đầu bạn cứ ngỡ có một họa sĩ trẻ nhiều tham vọng nào đó, sống vào thời các phù thủy Tân Anh, đã cố vẽ lại hình ảnh của sự hỗn loạn bị yểm bùa. Nhưng nhờ ngắm nghía chăm chú, suy ngẫm lặp đi lặp lại, và đặc biệt là nhờ mở cánh cửa sổ nhỏ phía sau hành lang, bạn cuối cùng đi đến kết luận rằng giả thuyết ấy, dẫu hoang đường, có khi cũng không hoàn toàn vô lý.
Nhưng thứ khiến bạn hoang mang và rối bời hơn cả chính là một khối đen dài, mềm, báo hiệu điềm gở, lơ lửng giữa tranh, bên trên ba đường thẳng mờ xanh thẫm dựng đứng, trôi nổi giữa một đám bọt nước vô danh. Một bức tranh thật đầm lầy, nhão nhoét và nhớp nhúa, đủ khiến người yếu thần kinh phát điên. Ấy vậy mà trong đó lại có một vẻ hùng vĩ khó định hình, chỉ cảm được lờ mờ, khiến bạn như bị đông cứng vào đó, đến mức vô thức thề với lòng phải tìm cho ra ý nghĩa bức tranh kỳ lạ ấy. Thi thoảng, một ý nghĩ sáng lòa, nhưng tiếc thay lại là hão huyền, vụt qua đầu bạn.—Đó là Hắc Hải trong một cơn bão lúc nửa đêm.—Đó là trận chiến siêu nhiên giữa bốn nguyên tố sơ khai.—Đó là bãi hoang bị sét đánh.—Đó là cảnh mùa đông phương Bắc giá rét.—Đó là dòng thời gian bị đóng băng đang vỡ tan. Nhưng cuối cùng, tất cả những tưởng tượng đó đều phải nhường chỗ cho vật thể đen thẫm và báo hiệu tai ương nằm giữa tranh. Một khi bạn khám phá được nó, thì phần còn lại trở nên rõ ràng. Nhưng khoan—phải chăng nó có nét giống một con cá khổng lồ? thậm chí là chính con Leviathan vĩ đại?
Thật ra, ý định của họa sĩ dường như là thế này: một giả thuyết cuối cùng của riêng tôi, dựa phần nào vào ý kiến tổng hợp từ nhiều cụ già mà tôi đã trò chuyện về bức tranh. Tranh miêu tả một con tàu Cape-Horner đang vật lộn giữa cơn bão lớn; con tàu gần như đã chìm, ba cột buồm trơ trọi là phần duy nhất còn nhìn thấy; và một con cá voi đang giận dữ, định nhảy vọt qua con tàu, nhưng lại đang tự xiên mình vào chính ba ngọn cột buồm ấy.
Vách đối diện hành lang treo đầy những chùy và giáo có hình dạng man rợ. Một số có răng sáng loáng tua tủa như cưa ngà; cái khác thì buộc từng búi tóc người; có cái lại hình lưỡi liềm, cán dài cong vòng như vệt cắt trên đồng cỏ mới gặt bởi lưỡi liềm tay dài. Bạn rùng mình khi nhìn thấy, và không khỏi tự hỏi kẻ man rợ ăn thịt người nào đã từng vung lên những dụng cụ rùng rợn ấy để gặt lấy tử thần. Xen lẫn trong đó là những mũi giáo săn cá voi và lao sắt gỉ sét, hư hỏng. Có vũ khí mang cả truyền thuyết. Với cây giáo dài nay đã cong queo kia, năm mươi năm trước, Nathan Swain từng hạ gục mười lăm con cá voi trong một ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Còn mũi lao kia—giờ xoắn như cái mở nút chai—được phóng ở vùng biển Java, bị cá voi kéo đi mất hút, và nhiều năm sau mới bị giết ngoài khơi mũi Blanco. Mũi sắt cắm gần đuôi, rồi như cây kim lạc trong thân người, nó di chuyển hơn bốn mươi bộ, cuối cùng được tìm thấy găm chặt trong u lưng.
Băng qua hành lang tối tăm ấy, rồi qua một vòm cửa thấp—cắt xuyên qua cái từng là lò sưởi trung tâm với nhiều bếp lửa quanh đó thời xưa—bạn bước vào phòng sinh hoạt chung. Một nơi còn tối tăm hơn nữa, với xà nhà nặng nề thấp lè tè phía trên, và sàn gỗ nhăn nheo bên dưới, khiến bạn có cảm giác như đang bước trên buồng lái của một con tàu cổ, nhất là vào đêm bão như thế này, khi con tàu già cỗi bị neo nơi góc phố lắc lư dữ dội. Một bên phòng có chiếc bàn dài, thấp, như cái kệ, phủ những hộp kính nứt, bên trong là các vật hiếm bụi phủ, được thu thập từ khắp nơi trên thế giới. Từ góc xa nhô ra một quầy bar tối tăm—trông như cái đầu cá voi lưng phải—có vẻ như ai đó đã cố tạo hình nó vậy. Dù thế nào, cũng có một khúc xương hàm cá voi khổng lồ uốn cong, rộng đến mức có thể cho cả xe ngựa đi qua. Bên trong là những kệ ọp ẹp, bày đầy bình rượu cũ, chai lọ, bình to nhỏ; và giữa cái hàm hủy diệt ấy, như một Jonah bị nguyền rủa (họ thật sự gọi ông ta như vậy), là một lão già nhỏ thó, khô đét, đang rộn ràng bận rộn bán cho thủy thủ thứ rượu đem lại ảo giác và cái chết.
Thật kinh khủng là những ly thủy tinh mà ông ta dùng để rót chất độc đó. Bên ngoài thì hình trụ thật đấy—nhưng bên trong là kính màu xanh lục nhạt, phình trên rồi thu nhỏ bên dưới, tạo thành đáy gian lận. Những vạch chia mờ nhạt khắc tay vây quanh những chiếc ly ấy. Rót đến vạch đầu, bạn chỉ phải trả một xu; vạch kế là thêm một xu nữa; và cứ thế đến khi đầy ly—đó là khẩu phần “vòng quanh Cape Horn”, và bạn có thể nốc cạn với giá một shilling.
Bước vào nơi đó, tôi thấy mấy cậu thủy thủ trẻ đang tụ tập quanh bàn, chăm chú xem xét dưới ánh đèn lờ mờ vài món chạm trổ bằng xương cá voi. Tôi tìm ông chủ quán, nói rằng tôi cần một phòng trọ, thì nhận được câu trả lời rằng nhà ông ta đã kín chỗ—không còn giường nào trống. “Nhưng đừng vội,” ông ta nói thêm, gõ nhẹ vào trán, “cậu không ngại ngủ chung với một tay phóng lao chứ hả? Tôi đoán là cậu đang chuẩn bị đi săn cá voi, thì cũng nên làm quen với chuyện đó.”
Tôi đáp rằng tôi không thích ngủ chung giường; và nếu thật sự phải như vậy thì còn tùy tay phóng lao đó là ai, rằng nếu quả thật ông không còn chỗ nào khác, và tay phóng lao ấy không phải là hạng người không thể chịu nổi, thì thà vậy còn hơn là lang thang ngoài phố giữa đêm buốt giá trong một thị trấn xa lạ.
“Tôi đoán thế mà. Ổn cả thôi; ngồi xuống đi. Ăn tối không?—cậu muốn ăn tối chứ? Sắp có ngay bây giờ.”
Tôi ngồi xuống một băng ghế gỗ cũ, được khắc chi chít như ghế ở công viên Battery. Một gã thủy thủ đang ngồi đầu ghế, miệt mài dùng dao khắc thêm vào khoảng trống giữa hai chân hắn. Hắn đang cố vẽ một con tàu căng buồm, nhưng tôi nghĩ hắn chẳng tiến triển bao nhiêu.
Cuối cùng, chừng bốn hay năm người chúng tôi được gọi vào phòng bên để ăn tối. Lạnh như ở Iceland—không có lò sưởi gì cả—ông chủ bảo rằng ông không đủ tiền. Chỉ có hai ngọn nến sáp trắng mờ mịt như được quấn trong khăn liệm. Chúng tôi đành cài chặt áo khoác thủy thủ và nâng ly trà nóng bằng những ngón tay tê cóng. Nhưng món ăn thì đầy đặn—không chỉ có thịt và khoai tây, mà còn có bánh bột hấp; lạy Chúa! bánh bột hấp cho bữa tối! Một cậu trai mặc áo khoác xanh rêu lao vào đống bánh ấy như thể đánh nhau với kẻ thù.
“Này con trai,” ông chủ quán bảo, “ăn kiểu đó thế nào cũng bị bóng đè chết giấc cho coi.”
“Này ông chủ,” tôi thì thầm, “đó không phải tay phóng lao đấy chứ?”
“Ồ không,” ông ta đáp, mặt cười kiểu quỷ quái, “tay phóng lao là một gã da ngăm. Hắn không ăn bánh bột đâu—hắn chỉ ăn thịt nướng thôi, và phải là tái.”
“Quỷ thật,” tôi nói. “Hắn có ở đây không?”
“Hắn sắp về rồi,” ông trả lời.
Tôi không thể không thấy nghi ngờ gã phóng lao “da ngăm” này. Dù sao, tôi cũng tự nhủ rằng nếu thực sự phải ngủ chung, thì hắn phải là người cởi đồ và chui vào giường trước.
Ăn tối xong, mọi người quay lại phòng rượu, còn tôi, không biết làm gì khác, quyết định dành phần còn lại của buổi tối để ngồi xem.
Chợt có tiếng la ó bên ngoài. Ông chủ bật dậy và hô, “Thủy thủ tàu Grampus đó. Tôi thấy có tin tàu nó vào vịnh sáng nay; ba năm đi biển, và chở đầy hàng. Hoan hô các cậu; sắp nghe tin mới nhất từ quần đảo Feegee rồi!”
Tiếng giậm ủng biển vang lên ngoài hành lang; cánh cửa bị đẩy bật ra, và một nhóm thủy thủ dữ dằn bước vào. Họ khoác những chiếc áo choàng dày xù xì để đi phiên trực, đầu quấn kín trong khăn len, áo quần vá chằng vá đụp, râu ria cứng lại vì băng giá—trông hệt như một lũ gấu từ xứ Labrador vừa trồi lên. Họ vừa lên bờ từ thuyền của mình, và đây là ngôi nhà đầu tiên họ bước vào. Thế nên cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi họ đi thẳng tới “miệng cá voi”—quầy rượu—nơi ông Jonah già bé nhỏ, nhăn nheo, đang phục vụ rượu, liền rót cho mỗi người một ly đầy. Một gã phàn nàn là bị cảm nặng, Jonah liền pha cho anh ta một ly hỗn hợp sền sệt như nhựa hắc ín gồm rượu gin và mật mía, và thề rằng đó là phương thuốc thần kỳ chữa khỏi mọi chứng cảm và sổ mũi, bất kể bị bao lâu, và dù có bị nhiễm nơi bờ biển Labrador hay phía gió của một tảng băng trôi.
Chẳng mấy chốc, rượu đã bốc lên đầu họ, như thường xảy ra với cả những tay bợm nhậu dày dạn nhất mới lên bờ, và họ bắt đầu nhảy nhót ầm ĩ.
Tuy vậy, tôi nhận thấy có một người giữ mình khá biệt lập, dù trông anh ta cũng muốn tránh làm cụt hứng bạn bè với vẻ mặt điềm tĩnh của mình, nhưng nhìn chung thì anh ta không làm ồn như đám còn lại. Người đó lập tức khiến tôi chú ý; và vì các thần biển đã sắp đặt cho anh ta sớm trở thành bạn tàu của tôi (dù trong câu chuyện này anh ta chỉ đóng vai trò “bạn ngủ cùng giường”), nên tôi xin được mô tả đôi chút. Anh ta cao ít nhất sáu bộ, vai rộng, ngực nở như đê chắn nước. Tôi hiếm thấy ai vạm vỡ đến vậy. Gương mặt anh sạm nắng và rám đen, càng làm cho hàm răng trắng sáng thêm nổi bật; trong bóng sâu nơi ánh mắt anh có thứ gì đó như ký ức không mấy vui vẻ. Giọng nói lập tức cho biết anh là người miền Nam, và với vóc dáng ấy, tôi đoán anh đến từ dãy núi Allegheny bên Virginia. Khi cuộc vui của đồng đội lên đến đỉnh điểm, anh lặng lẽ rút lui không ai để ý, và tôi không gặp lại anh nữa cho đến khi hai ta trở thành bạn tàu. Tuy nhiên chỉ vài phút sau, anh đã bị bạn mình phát hiện vắng mặt, và có vẻ là người họ rất quý mến, nên cả đám cùng hô vang: “Bulkington! Bulkington! Bulkington đâu rồi?” rồi ùa ra ngoài tìm.
Lúc này đã khoảng chín giờ, và căn phòng bỗng trở nên tĩnh lặng đến siêu thực sau những cuộc chè chén, tôi bắt đầu tự mừng với kế hoạch nho nhỏ vừa nảy ra trước lúc đám thủy thủ vào.
Chẳng ai muốn ngủ chung giường với người khác. Thật ra, người ta còn chẳng muốn ngủ cùng giường với chính anh em ruột của mình. Không hiểu sao, nhưng con người thích được riêng tư khi ngủ. Và nếu phải ngủ chung với một người lạ, ở một nhà trọ lạ, trong một thị trấn lạ, mà người đó lại là một tay phóng lao thì—ôi chao—nỗi e ngại tăng lên vô hạn. Lại nữa, chẳng có lý do gì khiến một thủy thủ như tôi phải ngủ chung giường với người khác hơn ai khác cả; bởi lẽ trên tàu thủy thủ cũng không ngủ chung giường, cũng như các ông vua độc thân trên đất liền vậy. Họ ngủ chung một phòng, nhưng mỗi người có võng riêng, đắp chăn riêng, và thân ai nấy lo.
Càng nghĩ về tay phóng lao đó, tôi càng ghê tởm ý nghĩ phải ngủ cùng giường với anh ta. Có thể chắc chắn rằng với nghề của anh ta, thì áo quần, dù là vải lanh hay len, cũng chẳng thể nào tươm tất, chứ chưa nói đến sang trọng. Tôi bắt đầu ngứa ngáy khắp người. Hơn nữa, cũng đã khuya, mà cái tay phóng lao tử tế đó vẫn chưa về để lên giường đi ngủ. Giả sử anh ta mò về lúc nửa đêm—làm sao tôi biết được anh ta vừa chui từ cái xó xỉnh dơ dáy nào ra?
“Chủ trọ! Tôi đổi ý rồi. Tôi sẽ không ngủ cùng gã phóng lao đó đâu. Tôi sẽ thử ngủ tạm trên ghế băng ở đây.”
“Tùy ý cậu thôi; tiếc là tôi chẳng có khăn bàn nào để lót làm nệm, mà cái băng này thì gồ ghề lắm” – ông vừa sờ vào những vết sần và mắt gỗ vừa nói. “Nhưng chờ chút, tay khắc xương à; tôi có cái bào mộc trong quầy—chờ nhé, tôi sẽ làm nó phẳng cho cậu ngủ êm hơn.” Nói rồi ông lấy cái bào ra; dùng chiếc khăn lụa cũ phủi sạch băng ghế, rồi hì hụi bào lấy bào để, miệng cười toe toét như khỉ. Mùn cưa bay tứ tán; cho đến khi lưỡi bào đụng phải một mắt gỗ cứng không bào nổi. Chủ quán suýt bong gân cổ tay, còn tôi thì bảo ông thôi đi cho tôi nhờ—giường thế là êm đủ rồi, và tôi không nghĩ có cái bào nào trên đời có thể biến gỗ thông thành lông nhung cả. Thế là ông gom mùn cưa lại, nhe răng cười lần nữa, ném vào lò sưởi giữa phòng, rồi quay về với công việc, để tôi một mình trầm ngâm suy nghĩ.
Tôi đo đạc băng ghế, thấy nó ngắn mất một gang tay; chuyện đó có thể chữa bằng cái ghế. Nhưng nó lại hẹp mất một gang, và cái băng ghế khác trong phòng thì cao hơn băng này chừng bốn phân—nên không ghép lại được. Tôi đặt băng ghế đầu tiên nằm dọc theo mảng tường trống duy nhất, chừa ra một khoảng nhỏ để tựa lưng. Nhưng chẳng mấy chốc tôi phát hiện một luồng gió lạnh buốt phà tới từ dưới bậu cửa sổ, khiến kế hoạch này hoàn toàn thất bại; nhất là vì còn một luồng gió khác từ cánh cửa ọp ẹp thổi tới gặp luồng gió kia, tạo thành một chuỗi lốc xoáy nhỏ ngay chỗ tôi định ngủ.
Quỷ tha ma bắt cái tay phóng lao đó đi, tôi nghĩ, nhưng khoan—sao mình không đánh úp hắn—chốt cửa lại từ bên trong, nhảy vào giường hắn, rồi cứ thế ngủ say không thằng nào đánh thức nổi? Ý tưởng cũng không tệ; nhưng nghĩ lại thì thôi. Ai mà biết được sáng hôm sau mình bước ra khỏi phòng thì gã phóng lao đã đứng chực ngoài hành lang, sẵn sàng cho mình một cú đo ván?
Tuy nhiên, nhìn quanh phòng lần nữa, thấy không còn cách nào để ngủ được đêm nay ngoài việc leo lên giường ai đó, tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ mình đang ôm giữ định kiến quá mức về tay phóng lao chưa từng gặp mặt này. Thôi thì cứ chờ xem; thế nào anh ta cũng sắp về. Tôi sẽ nhìn cho kỹ, biết đâu hai ta lại thành đôi bạn giường cực kỳ thân thiện—ai mà biết được.
Nhưng dù các khách trọ khác lần lượt vào phòng ngủ, vẫn chẳng thấy bóng dáng tay phóng lao của tôi đâu.
“Chủ quán!” tôi gọi, “gã đó là người thế nào vậy—anh ta thường về muộn thế à?” Bây giờ đã gần mười hai giờ đêm.
Chủ quán lại cười khúc khích cái kiểu cười khô khốc của mình, có vẻ khoái chí với điều gì đó vượt khỏi tầm hiểu của tôi. “Không,” ông đáp, “thường thì anh ta ngủ sớm—ngủ sớm dậy sớm—đúng kiểu chim sớm bắt được sâu đó mà. Nhưng tối nay anh ta ra ngoài buôn bán, và tôi cũng chẳng hiểu tại sao giờ vẫn chưa thấy về, trừ phi là—có lẽ—bán không nổi cái đầu của mình.”
“Không bán nổi đầu mình?—Ông đang kể cái chuyện gì bịa đặt ngớ ngẩn vậy hả?” tôi nổi cáu. “Ý ông là gì, chủ trọ, gã phóng lao đó đang lang thang khắp thị trấn vào đêm thứ Bảy này—hay nói đúng hơn là rạng sáng Chủ nhật—để bán cái đầu của mình?”
“Chính xác đấy,” chủ quán đáp, “mà tôi đã bảo anh ta là không thể bán được ở đây đâu, vì thị trường đã bội thực rồi.”
“Bội thực cái gì cơ?” tôi hét.
“Thì đầu chứ gì; chẳng phải thế giới này đã quá nhiều đầu người rồi sao?”
“Tôi nói cho ông biết, chủ quán,” tôi bình thản đáp, “ông tốt nhất nên dừng kể chuyện nhảm cho tôi nghe—tôi không phải tay mơ đâu.”
“Có thể không,” ông nói, rút ra một que gỗ và vót tăm, “nhưng tôi đoán là ông sẽ dính đòn nếu tay phóng lao đó mà nghe thấy ông bôi nhọ cái đầu của anh ta.”
“Tôi sẽ đập vỡ cái đầu đó,” tôi giận dữ gào lên vì cái mớ chuyện vô nghĩa của chủ quán.
“Nó vỡ rồi còn gì,” ông nói.
“Vỡ rồi,” tôi hỏi—“ý ông là sao?”
“Chắc chắn rồi, và đó chính là lý do anh ta không bán được nó.”
“Chủ quán,” tôi nói, bước đến gần ông như một ngọn núi lửa Hecla giữa bão tuyết—“chủ quán, ngưng vót tăm. Ông với tôi phải hiểu nhau rõ ràng, ngay lập tức. Tôi đến nhà trọ ông và cần một cái giường; ông bảo chỉ có thể cho tôi nửa cái; nửa kia là của một tay phóng lao nào đó. Về người này, mà tôi còn chưa gặp mặt, ông cứ kể cho tôi những câu chuyện mù mờ và khó chịu, khiến tôi sinh ác cảm với người mà ông định để tôi ngủ cùng—một mối quan hệ, thưa ông, vốn thân mật và riêng tư ở mức cao nhất. Giờ tôi yêu cầu ông nói rõ: gã phóng lao đó là ai, là người thế nào, và tôi có an toàn hoàn toàn khi ngủ với anh ta hay không. Trước tiên, ông hãy rút lại cái chuyện bán đầu đi, vì nếu nó là thật thì tôi cho rằng đó là bằng chứng rõ ràng rằng gã đó bị điên, mà tôi thì không đời nào ngủ với kẻ điên; còn ông, thưa ông, ông mà cố tình dụ tôi làm chuyện đó thì có thể bị truy tố hình sự.”
“Ờ,” chủ quán thở dài, “bài giảng khá dài đấy với một gã thỉnh thoảng chửi tục như ông. Nhưng cứ yên tâm đi, tay phóng lao mà tôi nói đó vừa mới từ Nam Thái Bình Dương về, nơi anh ta mua được một mớ đầu người Tân Tây Lan ướp xác (hàng hiếm đó mà), và đã bán gần hết, chỉ còn một cái, và tối nay anh ta cố bán nốt, vì mai là Chủ nhật, mà đem đầu người ra phố bán lúc thiên hạ đi nhà thờ thì kỳ lắm. Tuần trước anh ta cũng muốn bán, mà tôi đã chặn lại ngay lúc anh ta định bước ra cửa với bốn cái đầu xâu vào dây, y như xâu hành.”
Lời giải thích này đã xóa bỏ toàn bộ bí ẩn khó hiểu, cho thấy chủ quán hoàn toàn không có ý trêu chọc tôi—nhưng đồng thời, tôi cũng không biết nghĩ sao về một tay phóng lao có thể dành cả tối thứ Bảy đến tận rạng sáng Chủ nhật để đi bán đầu những kẻ dị giáo chết rồi—một việc chẳng khác gì dân ăn thịt người.
“Tin tôi đi, chủ quán, gã phóng lao đó nguy hiểm đấy.”
“Anh ta trả tiền đúng hạn,” ông đáp gọn. “Mà thôi, khuya lắm rồi, tốt nhất cậu nên nằm nghỉ đi—giường đó tốt lắm; tôi với Sal từng ngủ trên cái giường đó đêm tụi tôi làm đám cưới. Giường rộng lắm, hai người tha hồ lăn lộn. Thậm chí trước khi dẹp cái giường đó, Sal còn để thằng Sam và nhóc Johnny ngủ dưới chân giường. Nhưng có lần tôi nằm mơ rồi cựa mình dữ quá, thế là Sam rơi xuống đất suýt gãy tay. Từ đó Sal bảo không ổn. Thôi nào, tôi sẽ lấy đèn ngay cho cậu.” Nói rồi ông châm nến, chìa ra cho tôi, ý dẫn đường. Nhưng tôi còn do dự thì ông nhìn đồng hồ ở góc phòng rồi kêu lên, “Ôi trời, sang Chủ nhật rồi—cậu sẽ không gặp được tay phóng lao đó tối nay đâu; hắn đã thả neo đâu đó rồi—thôi đi nào, đi đi, đi với tôi chứ?”
Tôi suy nghĩ một chút, rồi cùng ông lên lầu, và được đưa vào một căn phòng nhỏ, lạnh như nghêu, với một chiếc giường khổng lồ, quả thật đủ cho bốn tay phóng lao nằm hàng ngang.
“Đó,” chủ quán nói, đặt cây nến lên cái rương gỗ cũ kỹ vừa làm bàn rửa mặt vừa làm bàn trà, “đó, nghỉ ngơi cho thoải mái nhé, chúc ngủ ngon.” Tôi quay lại sau khi ngắm giường—thì ông đã biến mất.
Tôi vén tấm trải giường lên, cúi xuống xem xét chiếc giường. Dù không phải loại sang trọng gì, nhưng nhìn chung cũng chấp nhận được. Tôi đảo mắt nhìn quanh phòng; ngoài giường và chiếc bàn giữa phòng, chẳng còn món đồ đạc nào thuộc về nơi này, trừ một cái giá thô sơ, bốn bức tường và một tấm ván chắn lò sưởi dán giấy, vẽ hình một người đàn ông đang đánh cá voi. Có một cái võng buộc lại quăng vào góc phòng, và một túi đồ đi biển to tướng, có lẽ là để thay cho một cái rương hành lý. Trên giá lò sưởi có mấy cái móc câu xương kỳ dị, và ở đầu giường cắm một cây lao săn cá voi cao.
Nhưng cái gì đây trên cái rương? Tôi nhặt nó lên, soi sát vào đèn, sờ thử, ngửi thử, và tìm mọi cách để đoán ra nó là thứ gì. Tôi chỉ có thể ví nó như một cái thảm chùi chân to tướng, viền mép có đính những mảnh nhỏ lách cách giống mấy cái gai nhím nhuộm màu quanh đôi giày moccasin của người da đỏ. Ở giữa thảm có một cái lỗ hoặc khe, giống như ở mấy chiếc poncho Nam Mỹ. Nhưng liệu có thể tin được rằng một tay phóng lao nghiêm túc lại có thể chui vào một cái thảm chùi chân rồi đi khắp các phố phường Kitô giáo như thế không? Tôi mặc thử, và nó nặng trịch như một cái sọt, xù xì, dày cui, lại hơi ẩm, như thể người phóng lao bí ẩn kia đã mặc nó dưới trời mưa. Tôi bước đến tấm gương dán trên tường, và chưa từng thấy cảnh tượng nào khôi hài đến thế. Tôi vội xé nó ra khỏi người, đến nỗi làm trẹo cả cổ.
Tôi ngồi xuống mép giường, bắt đầu nghĩ về gã phóng lao bán đầu người này và cái tấm thảm của hắn. Sau một hồi suy nghĩ, tôi đứng dậy, cởi áo khoác ngoài, rồi đứng giữa phòng trầm tư. Tôi lại cởi thêm áo vét, để trần tay áo sơ mi mà tiếp tục nghĩ ngợi. Nhưng giờ thì tôi bắt đầu thấy lạnh, vì đã cởi gần hết đồ, và nhớ đến lời chủ trọ nói là gã phóng lao có thể không về nhà đêm nay vì đã quá khuya, tôi chẳng đắn đo gì thêm, tụt quần dài và cởi giày, rồi thổi tắt đèn, chui vào giường và phó mặc linh hồn cho trời.
Không biết nệm nhồi lõi bắp hay mảnh gốm vỡ, tôi trằn trọc khá lâu, không sao ngủ được. Cuối cùng cũng thiếp đi, vừa mới chạm đến ranh giới của giấc ngủ thì nghe tiếng chân nặng trịch ngoài hành lang, và ánh sáng le lói rọi vào phòng dưới khe cửa.
Lạy Chúa cứu con, tôi nghĩ, chắc là hắn—gã phóng lao bán đầu người đây rồi. Nhưng tôi nằm im không động đậy, quyết không lên tiếng trừ khi bị bắt chuyện. Hắn cầm đèn một tay, tay kia xách đúng cái đầu người New Zealand ấy, bước vào phòng, không thèm nhìn về phía giường mà đặt cây nến xuống góc phòng, rồi bắt đầu cởi dây buộc chiếc túi lớn mà tôi đã trông thấy trước đó. Tôi nôn nóng muốn nhìn rõ mặt hắn, nhưng hắn cứ quay đi, loay hoay mở túi. Cuối cùng, hắn quay lại—trời đất ơi, gương mặt gì thế kia! Một khuôn mặt tối sẫm, ngả vàng tím, chỗ này chỗ kia loang lổ những mảng đen to như miếng dán. Đúng như tôi lo: hắn vừa đánh nhau, bị rạch nát mặt, mới từ phòng mổ về. Nhưng hắn chợt quay mặt về phía ánh sáng, và tôi thấy rõ những ô đen kia chẳng phải băng gạc gì cả. Đó là hình xăm. Lúc đầu tôi không hiểu ra, nhưng rồi chợt nhớ đến chuyện một người da trắng—cũng là dân săn cá voi—bị thổ dân bắt và xăm mình. Tôi đoán gã phóng lao này chắc cũng gặp chuyện tương tự trong những chuyến đi xa. Mà rồi sao chứ? Đó chỉ là bên ngoài; người ta có thể lương thiện dưới bất kỳ làn da nào. Nhưng còn làn da kỳ quái ấy thì sao—vùng không bị xăm—vàng tím bất thường. Có thể do nắng nhiệt đới nung đen, nhưng tôi chưa từng nghe ai bị rám nắng đến mức ấy. Dù sao tôi cũng chưa từng đến Nam Thái Bình Dương; có thể nắng ở đó khác thường. Khi những ý nghĩ này vụt qua đầu tôi, thì gã phóng lao chẳng thèm để ý đến tôi. Hắn mở túi, moi ra một cái rìu nhỏ giống rìu chiến, và một cái ví da hải cẩu còn nguyên lông. Hắn đặt hai vật ấy lên rương, rồi nhét cái đầu người kia vào túi. Hắn bỏ mũ—một cái mũ nỉ mới—lúc đó tôi suýt la to. Đầu hắn trọc lóc—gần như hoàn toàn—chỉ còn một túm tóc nhỏ buộc trên trán. Cái đầu trọc vàng tím của hắn trông hệt như một cái sọ người mốc meo. Nếu hắn không đứng chặn giữa tôi với cửa phòng, tôi đã chuồn lẹ hơn cả lúc nuốt xong bữa tối.
Dù vậy, tôi cũng định chuồn qua cửa sổ, nhưng đó là tầng hai phía sau. Tôi không phải kẻ hèn, nhưng không thể nào hiểu nổi gã đầu tím buôn đầu người kia là ai. Người ta sợ vì không hiểu, và vì tôi hoàn toàn mù tịt về hắn, nên thú thật là tôi sợ hắn chẳng khác gì quỷ sứ lẻn vào phòng giữa đêm. Tôi sợ đến mức không dám mở miệng hỏi hắn lấy một lời cho rõ ngọn ngành.
Trong khi đó, hắn tiếp tục cởi đồ, cuối cùng để lộ ngực và tay. Quỷ thần ơi, những chỗ ấy cũng bị xăm hình ô vuông như mặt hắn; lưng hắn cũng đầy hình xăm; cứ như vừa thoát ra khỏi trận chiến ba mươi năm, mặc áo giáp là băng dính y tế. Tệ hơn, cả chân hắn cũng có hình xăm, trông như một đàn ếch xanh leo lên gốc cây non. Rõ ràng hắn là một tên man rợ nào đó lên tàu săn cá voi ở Nam Thái Bình Dương và dạt vào đất nước Kitô giáo này. Tôi rùng mình khi nghĩ đến điều đó. Một kẻ buôn đầu người—biết đâu toàn đầu anh em hắn. Biết đâu hắn thích cái đầu tôi—trời ơi! nhìn cái rìu kia kìa!
Nhưng tôi không có thời gian để rùng mình, vì lúc này tên mọi đang thực hiện một việc khiến tôi chú ý tuyệt đối, và thuyết phục tôi rằng hắn quả là dân ngoại đạo. Hắn bước đến cái áo choàng dày treo trên ghế, lục túi, và lôi ra một bức tượng nhỏ kỳ dị với cái lưng gù, màu y hệt một đứa bé Congo ba ngày tuổi. Nhớ đến cái đầu ướp xác, ban đầu tôi tưởng đây là xác trẻ con được giữ giống vậy. Nhưng thấy nó cứng đờ, lại bóng loáng như gỗ mun đánh vecni, tôi đoán đây chỉ là một tượng gỗ, và đúng là vậy. Hắn bước đến lò sưởi không lửa, dỡ tấm ván chắn giấy, rồi dựng bức tượng gù lưng ấy như con ki gỗ, đặt giữa hai chân giá sắt. Thành ống khói và gạch bên trong đen ngòm, khiến tôi nghĩ cái lò sưởi này làm một ngôi miếu nhỏ cho thần Congo quả hợp lý.
Tôi căng mắt nhìn tượng bán ẩn kia, trong lòng bất an, để xem chuyện gì tiếp theo. Hắn lôi ra hai vốc vụn gỗ từ túi áo choàng, cẩn thận đặt trước tượng; rồi đặt một miếng bánh quy thủy thủ lên trên, dùng ngọn đèn đốt lửa, làm thành đám cháy tế lễ. Sau nhiều lần nhanh tay thò vào lửa rồi rút ra trong đau đớn (hắn có vẻ bị bỏng), cuối cùng hắn moi được miếng bánh quy ra; rồi thổi bớt nóng và tro, hắn lịch sự dâng bánh cho tượng thần nhỏ kia. Nhưng tượng quỷ đen nhỏ ấy chẳng buồn nhúc nhích. Tất cả những trò lạ kỳ đó đi kèm với những tiếng cầu nguyện trầm khàn lạ lùng, như hát kinh dị giáo, mặt hắn co giật một cách không tự nhiên. Cuối cùng, hắn dập lửa, cầm tượng lên nhét lại vào túi áo choàng, như thể thợ săn nhét một con chim chết vào túi săn.
Tất cả trò kỳ quái này khiến tôi càng thấy bất an. Thấy hắn sắp kết thúc nghi lễ và chuẩn bị chui lên giường với tôi, tôi nghĩ: đến lúc rồi, giờ hoặc không bao giờ, phải phá tan lời nguyền đã trói tôi nãy giờ trước khi đèn tắt.
Nhưng khoảng khắc tôi do dự suy nghĩ nên nói gì đã trở thành định mệnh. Hắn nhặt rìu lên từ bàn, ngắm nghía lưỡi rìu trong giây lát, rồi đưa lên ánh sáng, ngậm cán vào miệng và nhả ra những đám khói thuốc khổng lồ. Ngay sau đó, đèn bị tắt, và tên man rợ điên cuồng ấy, ngậm rìu trong miệng, nhảy lên giường với tôi. Tôi hét lên—không thể nhịn được nữa; hắn gầm lên ngạc nhiên rồi bắt đầu sờ soạng tôi.
Tôi lắp bắp cái gì đó không rõ, lăn người ép sát vào tường, rồi van xin hắn—dù là ai đi nữa—hãy im lặng để tôi dậy thắp đèn. Nhưng tiếng đáp trầm khàn của hắn cho tôi biết hắn chẳng hiểu tôi nói gì.
“Mày là ai thế?”—cuối cùng hắn nói—“Không nói hả, đồ chết tiệt, tao giết đấy.” Nói rồi, chiếc rìu sáng rực bắt đầu múa loạn xung quanh tôi trong bóng tối.
“Chủ trọ! Lạy Chúa! Peter Coffin!” tôi hét lên. “Chủ trọ! Cứu! Coffin! Thiên thần! cứu con với!”
“Nói đi! Mày là ai, nếu không, đồ chết tiệt, tao giết!” gã ăn thịt người gầm lên, trong khi vung rìu làm tro nóng bay tứ tung, tôi sợ cháy cả áo ngủ. Nhưng tạ ơn trời, đúng lúc ấy chủ trọ bước vào phòng, tay cầm đèn, và tôi lập tức lao ra khỏi giường chạy đến ông ta.
“Đừng sợ nữa,” ông ta cười toe toét, “Queequeg đây không làm tổn hại một sợi tóc nào của cậu đâu.”
“Đừng có cười!” tôi hét lên. “Sao ông không nói với tôi là cái tên phóng lao quỷ quái ấy là kẻ ăn thịt người?”
“Tôi tưởng cậu biết rồi chứ—tôi đã nói hắn buôn bán đầu người trong thị trấn mà?—Thôi quay lại ngủ đi. Queequeg, nhìn đây—cậu hiểu tôi, tôi hiểu cậu—cậu ngủ với người này—hiểu chưa?”
“Hiểu rõ rồi”—Queequeg lầm bầm, rít thuốc trong khi ngồi dậy trên giường.
“Cậu vào đi,” hắn nói, ra hiệu cho tôi bằng cây rìu, kéo chăn sang một bên. Thật sự, hắn làm vậy không chỉ lịch sự mà còn tử tế và tốt bụng. Tôi đứng nhìn hắn một lúc. Dù có xăm trổ đầy mình, hắn vẫn là một gã ăn thịt người sạch sẽ, dễ nhìn. Mình làm ầm ĩ thế để làm gì, tôi nghĩ—hắn cũng là con người như mình: hắn có lý do để sợ mình, cũng như mình sợ hắn. Ngủ với một kẻ ăn thịt người tỉnh táo còn hơn một tên Kitô say xỉn.
“Chủ trọ,” tôi nói, “nói hắn cất cái rìu đó đi, hay cái tẩu, hay gì đó; nói hắn ngừng hút thuốc, tôi sẽ ngủ cùng hắn. Tôi không thích có người hút thuốc trên giường. Nguy hiểm lắm. Với lại tôi đâu có mua bảo hiểm.”
Chủ trọ bảo Queequeg, và hắn lập tức làm theo, lại còn lịch sự ra hiệu mời tôi lên giường—lăn sang một bên như muốn nói—“Tôi không đụng đến một ngón chân của cậu đâu.”
“Chúc ngủ ngon, chủ trọ,” tôi nói, “ông có thể đi rồi.”
Tôi lên giường, và chưa bao giờ ngủ ngon như đêm đó.
