✍️ Tác giả:
饗庭篁村 (Aiba Kōson)
Một đứa trẻ thần đồng từ vùng quê Sanjō lên Tokyo lập nghiệp, mang theo khát vọng trở thành bậc anh hùng học giả của thời đại. Nhưng giữa ánh sáng hào nhoáng của thành phố là những cú sốc, mất mát, khốn khó khiến chàng trai trẻ suýt gục ngã. Trong một đêm hè oi ả, khi đứng trên cầu Azumabashi, chàng không ngờ rằng chính khoảnh khắc cứu một cô gái định tự tử lại trở thành bước ngoặt định mệnh của cuộc đời mình…
“Đêm Đẹp Trời” là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn thời Minh Trị Aiba Kōson, đậm chất tự truyện, với văn phong tinh tế, trữ tình, khắc họa sống động quá trình trưởng thành đầy giằng xé của một người trẻ giữa ánh trăng, gió sông và những giấc mộng lớn.
Tôi sinh ra ở Sanjō, vùng Echigo. Cha tôi làm nghề nông kết hợp buôn bán. Bác tôi, tên là Xuân Am, là một thầy thuốc. Tôi được bác thương yêu hơn cả cha mình, từ nhỏ đã được ông dạy chữ, dạy học. Nói ra có vẻ khoe khoang, nhưng tôi học rất nhanh, nghe một biết ba, nhờ đó được bác hết lòng dạy dỗ. Ông luôn nói rằng: “Thằng bé này nhất định sẽ làm rạng danh cho dòng họ Hotare, cũng nhờ vậy mà tên tuổi vùng đất này sẽ được biết đến.” Gặp ai bác cũng khoe về tôi. Tôi nghe mà mừng rỡ, càng thêm chăm học. Năm lên chín tôi đã được gọi là “thần đồng”, mười ba tuổi làm trợ giảng cho trường tiểu học.
Cha tôi hãnh diện, bác tôi cũng tự hào. Cả thị trấn Sanjō như chật hẹp lại vì tôi, người người trong vùng đều lấy tôi làm gương. Có lần, tổng đốc tỉnh đến thị sát trường học, nghe tôi giảng bài thì nói với hiệu trưởng: “Thật là một đứa trẻ xuất chúng, từ trước đến nay chưa thấy ai hơn nó.” Tôi nghe chuyện này thì nghĩ: không chỉ là giỏi nhất vùng, mình còn là nhân tài số một tỉnh Niigata. Nếu đã thế, khi ra Tokyo – nơi tập hợp những anh hùng khắp nước – mình cũng không thua kém gì ai. Tự tin dâng trào, tôi siết nắm tay mà mỉm cười một mình.
Hồi đó tôi chưa phân biệt học giả hay chính trị gia, trong lòng chỉ có hai chữ “anh hùng”. Vì thế tôi càng chuyên tâm học hành, thường ra câu hỏi khó làm thầy giáo mới phải cứng họng. Sau này đến cả cha và bác cũng không đối đáp lại được. Năm mười lăm tuổi, tôi lên Niigata học Anh văn, nhưng trình độ thầy không thỏa mãn được khát vọng của tôi. Người như tôi – đã đọc hết tác phẩm của Bát Đại Gia, đã giảng Luận Ngữ, ôm mộng trị quốc bình thiên hạ – sao có thể học những trò trẻ con như con khỉ cầm tay, con kiến bám chân, rồi ngồi trên khinh khí cầu dạo chơi? Ở Tokyo chắc chắn không như vậy. Rồng không thể lặn nếu không có vực sâu. Phải đến Tokyo, mài giũa tài trí, lập công danh lẫy lừng, hoặc trở thành học giả số một thiên hạ!
Tôi viết một bài thơ rồi rời trường Niigata, về quê thưa chuyện với bác. Bác nhíu mày bảo: “Chuyện học ở Tokyo, ta cũng mong cho cháu. Nhưng còn sớm. Bây giờ học Anh văn chẳng qua chỉ để biết chữ và hiểu lời. Hãy ở lại Niigata thêm hai, ba năm nữa, rồi hãy lên Tokyo trau dồi đỉnh cao. Học vấn không phụ thuộc nơi chốn.”
Tôi đành kìm chí, tự học một năm. Nhưng chí hướng lên Tokyo như ngựa đứt cương, đâu thể cột bằng sợi dây yếu ớt? Mùa xuân năm mười bảy tuổi, tôi hạ quyết tâm, thưa với cha và bác. Tôi đã chuẩn bị tâm thế: nếu không được cho phép, tôi sẽ bỏ nhà mà đi. Có lẽ nhận ra điều đó, bác tôi nói: “Nếu đã quyết vậy, thì đi đi.”
Cả họ hàng tiễn đưa, ai cũng bảo: “Con trai nhà Hotare lên Tokyo làm người lớn rồi đó, đáng mừng lắm!” Họ cho tiền, đưa tiễn. Cha tôi cố cười, động viên tôi, nhưng mẹ tôi thì bối rối, nước mắt rưng rưng: “Con nhớ giữ gìn sức khỏe, sớm về nghe chưa.” Tôi đeo chiếc đồng hồ bạc bác để lại, xách tay nải, nói “Kính chúc mọi người mạnh khỏe!” rồi bước đi. Lúc đó tôi còn vững vàng như một vị tướng thắng trận. Nhưng vừa dứt lời tạm biệt, một nỗi buồn không sao diễn tả tràn ngập trong tim.
Tôi bước mạnh, thở sâu, ráng bước qua rìa thị trấn. Đến rừng Miya, tôi dừng lại, nhìn về phía rẽ ba con đường, dập đầu bái vọng miếu thần, cầu cho chí nguyện thành tựu. Rồi tôi lên đường, chuyến đi chưa biết tương lai thế nào. Tôi mang theo sáu yên tiền tiêu đường, thêm ba mươi yên dành cho ba, bốn tháng ở Tokyo. Mẹ đã may cho tôi một dải thắt bụng bằng vải nghệ vàng, tôi cất tiền trong đó, đeo sát người.
Bạn bè, thầy cô tặng tôi ô trắng bọc bạc có đề thơ hoặc tranh vẽ lan trúc bằng mực. Tôi dùng làm dù, làm gậy, che nắng, chống đường. Suốt dọc đường đi, nhớ nhà, nghĩ đến tương lai, cảm xúc cứ trộn lẫn: vừa vui, vừa lo, vừa mừng, vừa buồn. Cảnh sắc núi sông chẳng còn thấy rõ. Đến tối, tôi ghé một quán trọ.
Dù đã vào trọ, tôi vẫn cảnh giác. Quan sát khách cùng phòng, xem cách bố trí nhà cửa. Khi người hầu mời tắm, tôi lấy cớ bị cảm để từ chối. Ăn tối sớm, lên giường nằm mà không tài nào ngủ được. Nghĩ đến quá khứ, tương lai, bao cảm xúc trào dâng. Tiếng ngỗng trời kêu khiến lòng tôi càng thêm buốt giá. Qua đèo, xuống núi, trên đồng đủ loại cỏ xuân, hoa anh đào nở khắp đỉnh đồi, chân núi – tất cả vừa đẹp vừa buốt lòng, in sâu trong tim.
Vượt qua đèo Usui, tôi đến Kumagaya trên đường Nakasendō. Nghĩ rằng ngày mai sẽ cưỡi xe ngựa tiến thẳng vào Tokyo, lòng tôi hân hoan. Trọ đêm đó, tôi đi tắm. Ba mươi yên vẫn để trong quần áo đặt trên giá. Ngồi trong bồn, tôi cứ nghiêng cổ nhìn đống đồ, canh chừng. Nhớ lời dặn của một người già: “Đêm trước khi đến nơi là lúc dễ bị trộm nhất.” Nghĩ vậy, tôi vẫn đeo dải tiền trong bụng mà nằm, giữa đêm còn sờ tay kiểm tra không biết bao lần.
Sáng hôm sau, quán trọ bỗng náo nhiệt, ai nấy vội vã. Tôi lên xe ngựa. Nhưng vừa ngồi lên thì xe chẳng chịu chạy. Mãi đến gần chín giờ, người phu mới quất roi cho xe khởi hành. Đường xóc dữ dội, người bị dằn lên dằn xuống, đập lưng vào thùng xe, như thể mình là trái banh bị ném tung. Mắt hoa, bụng quặn, nghĩ mình chưa chết là may mắn lắm rồi.
Cuối cùng, tôi được thả xuống gần cầu Mansei, khu Kanda, Tokyo. Khi ấy, tôi không còn là vị thần đồng xứ Niigata, càng không phải anh hùng Hotare Shūkichi, mà chỉ là một thằng học trò ngớ ngẩn, đứng đơ như tượng. Bị hành xác trên xe, tinh thần tôi rối bời. Lá phổi từng quen hít khí trong lành giờ phải hấp thụ thứ không khí bụi bặm hôi hám pha mùi khói xe. Âm thanh xe ngựa, xe tay vang dội như chốn địa ngục, còn cảnh cửa hàng rực rỡ chẳng khác gì cõi tiên, khiến tôi lạc lối, chẳng phân nổi đông tây, bắc nam. Đường phố hỗn loạn, người nói chẳng nghe rõ. Nhìn lại bản thân, tôi chỉ như một con sâu bé tẹo giữa dòng người. Bị phu xe chửi, bị người giữ ngựa quát, tôi cứ phải né bên này, cúi bên kia, khổ sở lắm mới lần mò được đến Asakusa, khu Sangen-chō như đã định.
Bác tôi có viết thư giới thiệu cho một người tên là Fukazawa sống ở Sangen-chō, Asakusa. Ông này vốn người Tokyo, từng có lần đến Echigo làm ăn, không may mắc bệnh nặng, gần chết. Khi ấy, bác tôi cứu sống, cho ông tiền về lại Tokyo. Từ đó ông biết ơn, hằng năm đều gửi quà thăm hỏi. Vì tôi không quen ai ở đây, nên bác dặn cứ đến nhờ ông.
Tôi tìm đến nhà ông Fukazawa, đưa thư của bác. Vừa nhìn phong bì ghi tên người gửi, ông đã rơi nước mắt mừng rỡ, vội vã khoe với vợ, cung kính như thể thần Phật đến nhà. Ông dẫn tôi vào phòng khách, vừa tiếp đãi vừa hỏi thăm bác, không ngừng nhắc chuyện được cứu năm xưa, lại lo tôi mệt nên chiêu đãi rất hậu.
Hôm sau, ông đưa tôi đi viếng Quan Âm, hôm sau nữa thì đến Ueno. Sau ba, bốn ngày, ông nói: “Giờ ta sẽ dò hỏi trường tốt cho cháu. Cháu cũng phải tự để tâm nhé. Trong lúc đó, dù chỗ hơi chật, cháu cứ ở tạm đây.” Lời ông nghe thật đáng tin cậy. Nhà tuy là nhà sau, nhưng sạch sẽ, không rõ làm nghề gì mà trông cũng khấm khá. Sau tôi mới biết, ông trông coi mấy khu đất và nhà cho thuê quanh vùng.
Đến ngày thứ tám tôi ở nhà này thì trúng vào mùa hoa anh đào và lễ hội ba đền (Sanja Matsuri), cảnh vật rộn ràng, vui nhộn hết sức. Tôi lấy bộ quần áo mang theo ra thay, đi viếng Quan Âm từ chiều, tối ghé tiệm mì soba ăn thử vị Kyoto, rồi ung dung trở về. Về đến nhà sau thì nghe tiếng xôn xao: “Gan thật đấy nhỉ,” ai nấy bàn tán.
Hỏi ra mới biết, nhà bên là dãy nhà thuê, có một cửa hàng bỏ trống. Vậy mà chiều nay có hai người đàn ông đến, khiêng cửa, vách ngăn, đồ đạc đi mất. Ai cũng tưởng là người được chủ nhà thuê dọn, chẳng ai nghi ngờ gì. Nhưng ông Fukazawa thấy lạ, ra hỏi thì hai kẻ kia ấp úng không trả lời được, vứt vách ngăn xuống đất rồi bỏ chạy.
Tôi nghe mà rùng mình: ban ngày ban mặt, giữa khu dân cư đông đúc thế này mà còn dám trộm cắp trắng trợn. Họ nhìn nhau, thế mà vẫn bị cướp. Tôi liền đưa tay sờ bụng xem dải tiền còn không.
Trời ơi, không thấy đâu nữa.
Tôi choáng váng, tưởng như ngã lăn ra đó. Chạy lên tầng hai, lục tung đồ, cởi cả quần áo, vẫn không thấy. Khóc cũng không được, buồn cũng chẳng kịp, tôi đờ người ra. Không còn mặt mũi nào, tôi đành kể với ông Fukazawa. Ông cũng sửng sốt: “Thật ra trong thư bác cháu có nói là có gửi ít tiền học phí. Tôi tính để cháu ổn định rồi mới cất hộ, nhưng vì là chuyện tiền nong nên tôi e ngại không dám nói ra. Ai ngờ lại ra nông nỗi này.”
Tôi càng thấy xấu hổ, cảm giác mình vừa ngu ngốc vừa bất lực. Giờ bảo về quê nói là bị móc túi thì đâu có dám? Tôi thầm quyết: dù phải làm chân sai vặt trong trường hay giúp việc nhà người ta, cũng sẽ ở lại đây học.
Nhưng tôi không quen ai, không có lối nào xoay xở, đành tiếp tục nương nhờ nhà Fukazawa. Ngay cả giấy lau mũi cũng phải dùng nhờ, đến mức đó. Ông Fukazawa thì vẫn tỏ ra không để bụng, nhưng vợ ông thì lộ rõ vẻ khó chịu.
Tôi cũng thấy không yên lòng. Tôi thưa rằng: “Cháu muốn tìm việc, sống tự lập, ở đâu cũng được.” Ông bảo: “Thật tiếc, cháu là người bác cháu giới thiệu đàng hoàng, tôi định lo cho cháu vào học, nhưng giờ tình hình thế này, chẳng dễ dàng. May mà gần đây có xưởng in mới mở, cháu thử làm công nhân ở đó một thời gian xem sao. Không giống nghề khác, chắc cháu cũng thích.”
Nghề này cũng gần gũi với điều tôi mong muốn, nên tôi đồng ý ngay, bắt đầu cuộc đời thợ in.
Xưởng in nằm ở khu Suwa-chō, Asakusa, sát bờ sông. Bên ngoài được tô điểm bằng gạch đỏ theo kiểu Tây, nhưng bên trong vẫn là nhà gỗ, ẩm thấp và tối tăm. Tôi ở lại luôn trong xưởng, từ sáng đến tối làm việc, rồi đến đêm tiếp tục phân loại chữ in. Công việc cực khổ, nhưng tôi vẫn có lúc rảnh để đọc báo chí, tạp chí. Những cuộc trò chuyện về chính trị với đồng nghiệp cũng đầy hứng thú.
Tôi nghe kể có một học giả người Mỹ khởi đầu cũng từ nghề in, thế là lòng tôi bừng sáng. Từ trước đến nay, tôi chỉ nghĩ học là đọc sách, học chữ, mà quên rằng đời sống chính là trường học lớn nhất. Vậy thì tôi sẽ học từ công việc, từ chữ in, sẽ biến cái xưởng in này thành trường học cho mình. Tinh thần nhờ thế mà vực dậy. Tôi chăm chỉ làm việc, được mọi người quý mến, có người còn khen: “Không ngờ cậu là học giả ngầm đó.”
Ngày tháng trôi nhanh hơn cả lúc nhặt chữ, mau hơn cả khi máy in quay. Đến mùa hè năm ấy, tiết trời tháng Tư, tháng Năm còn dễ chịu, nhưng sang tháng Sáu, Bảy thì nóng đến khủng khiếp. Nhà in tuy tô gạch kiểu Tây nhưng vẫn là gỗ, nóng hầm hập. Muỗi thì đầy như thể mọc lên từ chân vậy. Nóng như trâu bị dội nước sôi, chỉ mong được gào lên như ngựa Hồ giữa sa mạc.
Ban đêm còn khổ hơn ban ngày. Nóng không chịu nổi, tôi chẳng tài nào ngủ được. Đêm đó, trăng sáng, tôi quyết định ra ngoài hóng mát. Khoảng mười giờ, tôi ra khỏi xưởng, đi lễ Quan Âm rồi bước lên cầu Azuma.
Bốn phía nhìn ra, nào là mùi ngô nướng, tiếng đậu rang, tiếng rao bán đá lạnh… tất cả như càng khiến cái nóng thêm nặng. Dưa hấu bày bán trên đường khiến người ta liên tưởng đến mặt trời. Tôi đi đến giữa cầu, dừng lại, dựa lan can nhìn quanh. Ánh đèn từ hai bờ nhà chiếu xuống mặt nước, thêm phần mát mẻ. Tiếng đàn ai đó chơi vẳng lại, nghe thật êm dịu.
Trăng sáng nhưng ánh sáng nơi đất liền lấn át cả trời, thành ra ánh trăng nhạt như không có. Những con thuyền qua lại, mỗi chiếc đều có đèn riêng, phản chiếu xuống nước. Mỗi nhịp mái chèo gợn lên làn sáng lập lòe, sóng trắng lướt qua như để lại vệt dài phía sau. Nhìn cảnh ấy khiến người ta quên cả cái nóng. Gió sông mơn man da thịt, khiến chiếc áo đơn ướt mồ hôi của tôi khô lại lần đầu trong đêm.
Tôi thấy mình như con cá đỏ thẫm được bàn tay Phật vớt lên, thả vào ao mát. Cảm giác thoải mái lan khắp người. Giữa mùa hè thiêu đốt, cái gió sông mát rượi này như ơn huệ của trời đất. Tôi vừa đi vừa khe khẽ ngâm nga những câu thơ, câu ca trong các tác phẩm xưa, không rõ là hát hay là nói, cứ vuốt tay lên lan can mà đi.
Người qua lại bắt đầu nhìn tôi với vẻ nghi ngờ. Có ông lão quay lại, định nói gì đó nhưng rồi thôi. Có bà già quay ngược lại, bảo: “Cậu đứng dựa vào lan can thế nguy hiểm lắm đấy. Đừng làm điều dại dột.” Tôi ngẫm nghĩ: chắc họ tưởng tôi định nhảy cầu. Thấy có người sắp đi ngang, tôi liền bước đi để tránh bị hiểu lầm. Nhưng từ lúc có tâm lý đó, sự thư thái lúc đầu biến mất.
Tuy vậy, trong khung cảnh trăng sáng, gió mát ấy, tôi không muốn về xưởng. Chờ cho phố xá bớt người, tôi đi qua đi lại trên cầu. Bỗng một cảnh sát tuần tra bước đến, thấy tôi thì chặn lại:
“Cậu đi qua lại trên cầu làm gì vào giờ này?”
Lúc ấy tôi bắt đầu thấy bực với kiểu hỏi của cảnh sát, liền đáp:
“Chính vì chẳng có việc gì nên tôi mới ra đây hóng gió.”
Tôi nghĩ mình trả lời hay lắm. Nhưng cảnh sát nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét, hỏi tiếp:
“Cậu ở đâu? Tên họ là gì?” rồi nhìn tôi từ đầu đến chân.
Tôi đáp lại:
“Việc gì anh hỏi nơi ở, họ tên tôi? Tôi chỉ ra đây hóng gió, ngắm trăng, đâu có cản trở ai.”
Anh cảnh sát nói:
“Có người báo rằng có kẻ định nhảy cầu, hình dáng giống cậu. Tôi chỉ làm đúng trách nhiệm.”
Tôi đành khai nơi ở, tên họ, rồi kể sơ qua chuyện trong xưởng nóng quá không ngủ được nên ra ngoài. Anh cảnh sát gật đầu:
“Vậy thì được rồi. Nhưng nếu hóng gió quá lâu sẽ cảm lạnh đấy. Nên về sớm thì hơn.”
Tôi cảm ơn rồi chia tay. Nhưng không nỡ rời cây cầu ấy. Tôi tiếc vì lỡ để lộ mình là ai, thấy không vui. Cảnh sát đi ngang qua một lần nữa, thấy tôi vẫn còn đứng đó thì chỉ liếc nhìn rồi đi tiếp.
Tiếng chuông chùa Kim Long vang lên, tôi quay lưng tựa lan can, đếm: đúng nửa đêm. Người đi lại càng lúc càng ít, ánh đèn hai bờ cũng tắt dần. Những con thuyền lặng lẽ, mặt nước và bầu trời như tràn ngập ánh trăng. Gió sông thổi nhẹ, mát rượi như nhỏ từng giọt lên da. Nỗi buồn, sự bối rối lúc nãy cũng tan biến, tôi thấy lòng thanh thản.
Tôi chợt thấy ở giữa cầu, có người đang đứng dựa lan can, nhìn xuống mặt nước. Có lẽ người ấy cũng như tôi – tìm chút mát mẻ trong đêm hè oi ả? Tôi tiến lại gần, nhưng người đó đã bước đi. Một lát sau, lại thấy người ấy quay lại, vẫn nhìn xuống nước chứ không ngước nhìn trăng.
Tôi nghĩ: hay người này định nhảy cầu? Nếu vậy, đây là cơ hội hiếm có. Tôi chưa từng cứu ai bao giờ. Trăng vừa bị mây che khuất, tôi len lén bước lại gần, thì phát hiện đó là một cô gái.
Linh cảm càng rõ: cô ấy chắc đã quyết tâm. Tôi ẩn mình, quan sát. Cô mấy lần đặt tay lên lan can, mấy lần do dự, rồi có vẻ sắp cởi guốc. Tôi lao đến, ôm chầm lấy cô, kéo khỏi lan can:
“Khoan đã! Chết lúc nào chẳng được!”
Tôi vừa nói vừa dỗ dành. Đúng lúc ấy, cảnh sát tuần tra đi tới, cùng tôi trấn an cô gái. Chúng tôi đưa cô về đồn ở đầu cầu. Họ hỏi lý do, nhưng cô chỉ lấy tay áo che mặt, khóc rưng rức.
Tôi cũng bị hỏi sơ qua tình hình, nên kể lại rõ ràng, rất đắc ý. Cảnh sát dịu giọng khuyên bảo, cô gái dần nguôi ngoai, lau nước mắt rồi cúi đầu cảm ơn tôi. Khi ấy tôi mới nhìn rõ mặt: cô rất trẻ, chỉ khoảng mười bốn, mười lăm tuổi. Không phải hạng gái lêu lổng như tôi e ngại, mà là một cô gái đáng thương.
Tôi hỏi: “Tại sao cô lại nghĩ đến chuyện chết?”
Cô ấp úng đáp: “Vì mẹ tôi khác mẹ của cha. Cha mẹ thường xuyên cãi nhau vì tôi. Tôi thấy mình là nguyên nhân khiến họ bất hòa, nên buồn bã quá đỗi…” Cô không nói thêm gì nữa.
Khi cảnh sát hỏi tên cha mẹ, cô van nài: “Xin đừng bắt tôi phải nói.”
Tôi bèn nói đỡ: “Mong các ngài cho cô bé được theo ý mình, xin đưa cô về nhà cha mẹ.” Rồi quay sang cô bé, khuyên nhủ một câu: “Đừng suy nghĩ dại dột nữa.”
Sau đó tôi rời khỏi đồn cảnh sát. Nhưng trong lòng vẫn còn xao động, không vui. Tôi không quay lại nhà in, mà lại đi dạo thêm trên cầu. Lần này, cảnh sát tuần tra không còn nghi ngờ gì nữa, ngược lại còn cúi đầu chào nhẹ như thể cảm kích hành động vừa rồi.
Đêm ấy, trên cầu chỉ còn tôi và ánh trăng. Dòng nước lúc thủy triều lên trải rộng hơn thường lệ, mát không chỉ mát mà phải nói là lạnh rùng rợn. Cảm giác như tôi đã thoát khỏi thân xác con người, đang nhẹ nhàng dạo chơi nơi cung trăng. Không cần tìm tới Bồng Lai Tam Sơn, chỉ cần đứng trên cây cầu này là đã như lạc vào tiên cảnh. Tôi lặng người, quên cả thân lẫn tâm.
Nhưng rồi nghĩ đến cô gái nhỏ kia, lòng tôi chợt đau nhói. Giữa chốn thanh cao và trong trẻo thế này, lại có người muốn chết. Nghĩ đến chuyện đó khiến lòng tôi trĩu nặng. Trong lúc còn đang ngẫm nghĩ, tôi không để ý là trăng đã lẩn sau mây mù.
Tôi đang đứng ở phía bản cầu nghiêng về Honjo để nhìn cho rõ toàn cảnh sông. Bỗng thấy từ phía bờ sông có một chiếc xe tay phóng nhanh lên cầu. Có tiếng người từ trên xe gọi “Ya ya!”, và người kéo xe cũng vội vàng buông càng, chạy thẳng về phía tôi. Do cầu có độ dốc, chiếc xe lăn lóc lùi lại. Người phu xe hoảng hốt, quay lại định giữ xe thì người khách trên xe đã ngăn lại, nhảy xuống xe như bay.
Phu xe ôm lấy tôi thật chặt. Tôi ngạc nhiên, nhưng đoán rằng họ lại tưởng tôi định nhảy cầu, liền nói:
“Cảm ơn anh đã lo lắng. Nhưng tôi không có ý định tự sát, xin hãy thả tôi ra.”
Anh phu xe lắc đầu:
“Dù có thương hay thông cảm thì tôi cũng không thể buông anh ra được. Mời anh đi theo tôi một chút.”
Tôi vùng vẫy: “Tôi không định nhảy cầu, đừng hiểu lầm!”
Anh đáp: “Có thể là vậy, nhưng cũng có thể không phải. Lầm hay không lầm thì vẫn phải đề phòng.”
Lúc đó, người khách trên xe cũng bước tới và nói:
“Man’kichi, giỏi lắm. Còn trẻ như vậy mà đã muốn từ bỏ cuộc đời là không được.”
Chúng tôi còn đang đôi co thì cảnh sát lại xuất hiện. Tôi lên tiếng trước:
“Là thế này thế này, họ hiểu nhầm tôi…”
Cảnh sát nhìn tôi, nhận ra ngay, liền cười:
“Cậu này không phải người định nhảy cầu đâu. Chẳng qua cậu hay đứng lẩn quẩn trên cầu nên ai cũng nghi thôi.”
Được cảnh sát xác nhận, người khách và phu xe cũng thôi không giữ tôi nữa. Tôi cúi đầu cảm ơn sự quan tâm của họ, rồi bảo cảnh sát: “Tôi cũng nên về thôi.” Rồi tôi quay người rời khỏi cầu, chia tay ánh trăng và dòng nước.
Đêm trăng gió ấy đã làm cảm xúc tôi dâng trào. Và chính từ đêm đó, tôi quyết tâm sẽ dùng văn chương để bước vào đời.
Một hôm, tôi nhận được thư từ cha mẹ gửi đến. Lúc đó là mùa gió thu, lá thích xào xạc. Tôi vừa cầm thư, thấy tên mình do tay cha viết trên phong bì, nước mắt đã rơi.
Trong thư, cha mẹ hỏi thăm sức khỏe, báo tin gia đình bình an, còn nói sẽ gửi thêm một chiếc áo lót để mặc mùa thu. Ngoài ra là chuyện lặt vặt ở quê. Tôi chẳng giấu gì, liền hồi âm kể rõ tình hình, nói rằng nếu đời người là trường học thì dẫu không vào lớp vẫn cứ học được. Tôi cố pha trộn đôi chút mộng tưởng và chút trải nghiệm thật để khiến thư có vẻ thực tế và yên lòng người ở quê.
Vài hôm sau, tôi nhận tiếp thư của bác. Bác giật mình khi biết tôi bị mất tiền học phí và phải làm nghề in, tỏ ra lo lắng:
“Ta sẽ gửi tiền lại cho cháu. May sao, người bạn cũ từng học cùng ta ở Kyoto nay đã thành đạt, sống ở Tây-chō, Ueno. Ta vừa nhận được thư anh ấy. Hãy mang theo thư giới thiệu này đến gặp và nghe anh ấy chỉ dẫn.”
Tôi báo tin cho ông Fukazawa, thay áo thu vừa được gửi tới, rồi cầm thư của bác tìm đến nhà người ấy. Ngôi nhà nằm trong hàng rào sơn đen, vườn rộng, đi từ cổng vào khoảng mười lăm bước mới tới cửa chính. Tôi xin gặp và trình bày ý định. Từ bên trong, nghe có giọng người gọi học trò:
“Thư quý lắm. Đưa cậu ấy vào đây.”
Tôi được dẫn vào phòng khách, rồi lại được mời vào một căn phòng trong. Căn phòng bày biện thanh nhã khiến tôi thấy không yên lòng. Dù muốn không nhìn, mắt vẫn cứ quét khắp nơi.
Bỗng tấm cửa trượt phủ vải cây sậy nhẹ nhàng mở ra, một cô gái thanh tú bưng trà bước vào. Tôi vội vàng xê dịch đệm ngồi để đón lấy chén trà. Cô gái khẽ “ồ” lên, tôi cũng chợt sững lại.
Một giọng nhẹ nhàng vang lên: “Mang chậu lan ra vườn đi.” Chủ nhà xuất hiện. Tôi vội vàng cúi rạp chào. Ông nói:
“Không cần khách sáo. Ta và bác cháu là bạn thân. Ta đã biết chuyện cháu qua thư rồi. Cứ yên tâm, cứ ở lại nhà ta.”
Tôi ngẩng đầu lên, nhìn kỹ chủ nhà, sửng sốt. Ông cũng nhìn tôi chăm chú.
Cô gái bưng trà kia chính là cô bé mà tôi đã ngăn không cho nhảy cầu hôm nọ. Còn ông chủ nhà, chính là người khách trên xe tay hôm đó, cũng là người đã sai phu xe ôm chặt lấy tôi.
Cô gái tên là Ume, con gái một gia đình nghèo ở khu Kiyoshima-chō, Asakusa. Nhỏ người, nhưng đã mười lăm tuổi, thông minh, nhanh nhẹn. Sau cái đêm định tự vẫn, cô được nhận vào nhà này làm hầu gái. Dù sống trong nghèo khổ và lo lắng, cô vẫn giữ được tính cách ngay thẳng, hiền lành. Chủ nhà hôm đó dự tiệc bạn bè ở nhà hàng Uebana chùa Mokubō, trên đường về gặp chuyện trên cầu, đã kể lại mọi việc như một câu chuyện cười khiến ai nấy cùng phá lên. Tôi thì thấy mặt nóng ran vì xấu hổ.
Chủ nhà không biết tôi từng gặp Ume, nên cả hai chúng tôi cùng giả vờ như không quen.
Tôi xin dừng bút tại đây.
Từ khúc này trở đi, là câu chuyện chứa đựng bao niềm vui, nỗi buồn, những cơn thất vọng sâu sắc và hạnh phúc rạng rỡ — tôi xin để dành lại cho tuổi già. Vì đó không còn là chuyện của riêng tôi. Đó là công lao của Ume – nay là người vợ tôi kính trọng và yêu thương – người đã nhiều lần nâng đỡ tôi khi tôi gục ngã, để có được ngày hôm nay.
Muốn ghi lại tình cảm ấy thì sẽ dễ làm người ta cười chê. Vậy nên, khi nào trái tim người đời đủ ấm lại, những lời đàm tiếu đã phai nhạt, tôi sẽ cầm bút lần nữa, để viết nên phần còn lại của “Đêm Đẹp Trời.”
