Ngũ Đế Bản Kỷ
Hoàng Đế là con của Thiếu Điển, mang họ Công Tôn, tên là Hiên Viên. Ngay từ khi sinh ra đã tỏ ra linh dị khác thường; còn nhỏ đã biết nói, tuổi thơ đã biết phân biệt phải trái, khi lớn thì hiền hòa, thông tuệ, trưởng thành lại càng sáng suốt minh mẫn.
Khi đó, triều đại của Thần Nông đã suy yếu. Các chư hầu đánh lẫn nhau, tàn bạo với dân, còn nhà Thần Nông thì không thể dẹp yên. Hiên Viên bèn luyện binh giỏi việc dùng binh khí, đánh phạt những kẻ không chịu quy phục. Các chư hầu lần lượt đến thần phục ông. Trong số đó, Xích Du là kẻ tàn ác nhất, chẳng ai đánh thắng nổi.
Viêm Đế lại có ý muốn xâm lấn các chư hầu, nên mọi người đều quay về theo Hiên Viên. Ông bèn tu dưỡng đạo đức, chỉnh đốn quân đội, điều hòa ngũ khí, phát triển nghề trồng năm loại ngũ cốc, chăm lo dân chúng, tính toán phương hướng bốn phía, lại huấn luyện các loài mãnh thú như gấu, beo, cọp để cùng ông giao chiến với Viêm Đế trên cánh đồng Bản Tuyền. Hai bên đánh nhau ba trận, cuối cùng Hiên Viên giành được thắng lợi.
Sau đó, Xích Du lại nổi loạn, không chịu tuân theo lệnh vua. Hoàng Đế bèn triệu tập binh mã các chư hầu, đánh với Xích Du tại cánh đồng Trác Lộc, cuối cùng bắt sống và giết chết hắn. Các chư hầu đồng lòng tôn Hiên Viên làm Thiên Tử, thay thế nhà Thần Nông, và gọi là Hoàng Đế.
Từ đó, khắp thiên hạ ai không phục, ông đều thân chinh chinh phạt; nơi nào đã yên thì bỏ qua. Ông phá núi mở đường, đi lại khắp nơi, chưa từng sống yên ổn một chỗ.
Hoàng Đế sai các vị Nghi và Hòa kính cẩn thuận theo ý Trời, quan sát quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng, sao trời để hướng dẫn cho dân chúng biết thời tiết bốn mùa. Ông phân công Nghi Trọng trấn giữ vùng đất U Di ở Dương Cốc – nơi mặt trời mọc – để đo đạc sự chuyển dịch của mặt trời mà định ra mùa xuân. Khi mặt trời lên tới đỉnh đầu, sao Điểu hiện, đó là trung xuân. Dân vùng ấy dần biết chia việc, thú rừng cũng dần được thuần hóa.
Ông lại sai Nghi Thúc trấn giữ phương Nam, ở đất Giao, để theo dõi ánh mặt trời mà định ra mùa hạ. Khi ngày dài nhất, sao Hỏa xuất hiện, ấy là trung hạ. Dân chúng thuận hòa, thú dữ cũng hiếm.
Sai Hòa Trọng ở phương Tây, đất Mội Cốc – nơi mặt trời lặn – để định mùa thu. Khi đêm dài ngang ngày, sao Hư hiện, là trung thu. Dân cư hiền hòa, chim thú rậm lông. Sai Hòa Thúc ở phương Bắc, đất U Đô, để theo dõi thời gian tiềm tàng của vạn vật. Khi ngày ngắn nhất, sao Mão hiện, là trung đông. Dân vùng đó chịu rét, chim thú mọc lông dày.
Một năm có 366 ngày, thêm tháng nhuận để điều hòa bốn mùa. Trăm quan đều tuân theo lệnh mà mọi việc được trật tự, công việc hưng thịnh.
Vua Nghiêu nói: “Ai có thể nối tiếp ta trị vì đây?” Phóng Tề nói: “Con trai ngài, Đan Chư, là người khai minh.” Nghiêu lắc đầu: “Ôi, nó cứng đầu, hung dữ, không dùng được.” Nghiêu lại hỏi: “Còn ai xứng không?” Hoan Đâu tiến cử Cộng Công, nói rằng người này khéo kết giao, hay lập công. Nghiêu đáp: “Cộng Công giỏi nói, nhưng hành động tà vạy, bề ngoài thì khiêm nhường mà trong lòng cuồng vọng, không thể dùng.”
Nghiêu lại hỏi: “Ôi chư sơn, hiện nay nước lũ cuồn cuộn như dâng trời, nhấn chìm núi đồi, khiến dân khổ sở, có ai có thể dẹp yên được không?” Mọi người đồng thanh đề cử Củn. Nghiêu nói: “Củn là kẻ từng phụ mệnh, khiến họ tộc bị hủy diệt, không nên dùng.” Chư sơn thưa: “Việc này lạ lắm, nhưng xin cho thử dùng, nếu không được thì bỏ.” Nghiêu thuận theo. Sau chín năm, Củn vẫn không có thành tựu.
Nghiêu nói: “Ôi chư sơn, trẫm trị vì đã bảy mươi năm, trong các khanh có ai gánh nổi ngôi vị này chăng?” Chư sơn đáp: “Thần đức kém cỏi, không dám nhận ngôi đế.” Nghiêu bảo: “Hãy tìm hết những người quý tộc lẫn kẻ ẩn cư xa xôi.” Mọi người đều nói với Nghiêu: “Trong dân gian có người tên là Ngu Thuấn.” Nghiêu hỏi: “Phải, trẫm có nghe đến, người ấy thế nào?” Chư sơn đáp: “Là con trai một người mù, cha thì cố chấp, mẹ thì độc ác, em trai thì kiêu căng, nhưng y vẫn sống hòa thuận, hiếu thảo, tu thân mà không phạm lỗi.” Nghiêu nói: “Vậy để ta thử xem.”
Bèn gả hai người con gái cho Thuấn, quan sát đức hạnh của chàng qua hai nàng. Thuấn đưa hai vợ đến sống ở Quý Nhuế, giữ lễ vợ chồng đúng mực.
Nghiêu rất hài lòng, sai Thuấn cẩn thận giảng hòa đạo lý Ngũ điển, và Thuấn đã làm được. Ông được cho thăm viếng trăm quan, ai nấy đều giữ đúng bổn phận. Thuấn tiếp đón khách từ bốn cửa, nghi lễ uy nghi, các chư hầu và khách từ phương xa đều kính phục. Nghiêu còn sai Thuấn vào núi rừng, sông ngòi, đầm lầy giữa giông tố, mưa gió, nhưng chàng vẫn không lạc đường. Nghiêu tin Thuấn là bậc thánh, bèn triệu gọi và nói: “Ngươi lo việc gì cũng có kết quả, đã ba năm rồi. Nay hãy lên ngôi Thiên tử.” Thuấn khiêm tốn từ chối, không vui. Đến ngày mồng một tháng Giêng, Thuấn nhận mệnh trời tại miếu Văn Tổ – tổ tiên của Nghiêu.
Sau đó, Nghiêu già yếu, giao quyền cai trị cho Thuấn để quan sát thiên mệnh. Thuấn trấn giữ sao Kim và ngọc hoành để chỉnh lý bảy chính sự. Cúng tế Thượng Đế, lễ bái sáu tổ tiên, cầu khấn núi sông, phân biệt các thần linh. Ông nhận năm loại điềm lành, chọn tháng ngày tốt, gặp chư sơn và các mục trưởng, ban phát điềm lành. Tháng Hai, Thuấn đi tuần phương Đông, đến núi Thái Sơn, tế lễ, dâng phẩm vật theo đúng nghi lễ. Gặp các chư hầu phương Đông, thống nhất lịch thời, đo lường, luật lệ. Dâng ngũ lễ, ngọc, lụa, sinh lễ và tử lễ, như năm loại khí cụ, rồi trở về.
Tháng Năm tuần phương Nam, tháng Tám tuần phương Tây, tháng Mười Một tuần phương Bắc – mọi việc đều như trước. Khi về, ông tế lễ ở miếu tổ tiên bằng nghi lễ đặc biệt với trâu trắng. Cứ năm năm một lần tuần thú, các chư hầu đều chầu bốn mùa. Ông công bố lời dạy, thử thách công trạng, ban cấp xe áo tùy công.
Ông chia đất thành mười hai châu, khơi thông sông ngòi. Dùng hình tượng để định hình phạt, chia năm hình phạt: đánh roi là hình phạt quan chức, đánh gậy là hình giáo huấn, dùng tiền chuộc là hình phạt chuộc tội. Nếu phạm lỗi lầm nhỏ, có thể tha thứ; nếu cố ý làm ác thì xử nghiêm. Phải hết sức cẩn thận, giữ sự công minh của hình pháp!
Hoan Đâu từng tiến cử Cộng Công, Nghiêu từ chối nhưng vẫn cho thử làm quan kỹ sư. Quả nhiên Cộng Công đồi bại tà dâm. Chư sơn từng tiến cử Củn trị lũ, Nghiêu cho là không thể, nhưng vẫn cho thử. Rốt cuộc không thành công, dân chúng khổ sở. Lúc đó, Tam Miêu ở các vùng Giang Hoài, Kinh Châu thường làm loạn. Thuấn bèn tâu với vua xin đày Cộng Công đến U Lăng để dạy người Bắc Địch; đày Hoan Đâu đến núi Sùng để cảm hóa người Nam Man; dời Tam Miêu đến Tam Nguy để cảm hóa người Tây Nhung; xử tử Củn ở núi Vũ để răn đe người Đông Di. Nhờ xử lý bốn kẻ có tội mà thiên hạ đều phục tùng.
Nghiêu trị vì bảy mươi năm thì gặp được Thuấn, hai mươi năm sau thì già yếu, giao quyền cho Thuấn và tiến cử với trời. Nghiêu nhường ngôi suốt hai mươi tám năm rồi qua đời. Dân chúng đau buồn như mất cha mẹ. Trong ba năm, khắp bốn phương không ai dám tấu nhạc, vì nhớ thương Nghiêu.
Nghiêu biết con trai mình là Đan Chư bất tài, không đủ gánh vác thiên hạ, nên quyết định trao quyền cho Thuấn. Nếu truyền ngôi cho Thuấn thì dân được nhờ mà Đan Chư buồn; còn nếu truyền cho Đan Chư thì thiên hạ sẽ khổ mà chỉ một người vui. Nghiêu nói: “Ta không thể vì một người mà làm khổ thiên hạ.” Và cuối cùng, ông đã truyền ngôi cho Thuấn.
Khi Nghiêu mất, mãn ba năm để tang, Thuấn nhường cho Đan Chư cai quản vùng phía nam sông Nam Hà. Nhưng các chư hầu đến chầu không tìm Đan Chư mà đều đến với Thuấn; người kiện tụng không tìm Đan Chư mà tìm Thuấn; kẻ ca hát không ca Đan Chư mà chỉ ca tụng Thuấn. Thuấn nói: “Ấy là mệnh trời vậy.” Từ đó, ông chính thức bước lên ngôi Thiên tử, trở thành vua Thuấn.
Ngu Thuấn, tên thật là Trọng Hoa. Cha là Cổ Tẩu, ông nội là Kiều Ngưu, cụ là Câu Vọng, kế là Kính Khang, rồi Cùng Thiền, cha là Đế Chuyên Húc, còn Chuyên Húc là con của Xương Ất – trải bảy đời đến Thuấn. Từ đời Cùng Thiền đến Thuấn, tổ tiên đều là thứ dân, không làm quan lớn.
Cha của Thuấn là người mù, mẹ mất sớm. Cha cưới vợ khác sinh ra người em tên Tượng – tính tình kiêu căng. Cha yêu mẹ kế và em trai, thường tìm cách hãm hại Thuấn. Hễ có việc gì nhỏ, Thuấn đều bị trách phạt. Nhưng chàng vẫn hết lòng hiếu thuận với cha, mẹ kế và em trai, ngày ngày kính cẩn, không oán thán.
Thuấn là người đất Ký Châu. Chàng từng cày ruộng ở núi Lịch, đánh cá ở đầm Lôi Trạch, làm đồ gốm bên sông, chế tác dụng cụ ở Thọ Khâu, theo học nghề ở Phụ Hạ. Dù bị cha hung bạo, mẹ độc ác, em trai ngỗ nghịch, đều muốn giết, nhưng Thuấn vẫn giữ đạo làm con và lòng nhân với anh em. Muốn giết mà không được; hễ tìm là đã thấy chàng ở bên cạnh.
Khi mới hai mươi tuổi, Thuấn đã nổi tiếng vì lòng hiếu thảo. Đến tuổi ba mươi, vua Nghiêu hỏi ai là người có thể tiếp nối đại nghiệp, bốn vị sơn thần đều tiến cử Ngu Thuấn. Vua Nghiêu bèn gả hai con gái cho Thuấn để xem phẩm hạnh bên trong, lại sai chín người con trai cùng sống với ông để quan sát bên ngoài.
Thuấn sống ở Quý Nhuế, hết sức giữ gìn lễ nghĩa. Hai con gái của vua Nghiêu tuy là công chúa nhưng không kiêu ngạo vì thân phận, đối xử với họ hàng bên chồng rất mực khiêm cung, đúng đạo làm vợ. Chín người con của vua Nghiêu cũng ngày càng gắn bó thân thiết với Thuấn.
Thuấn cày ruộng ở núi Lịch, người trong vùng đều tự nguyện nhường ranh giới đất cho ông. Khi ông đánh cá ở đầm Lôi Trạch, dân chài đều tự nhường bãi tốt. Ông làm gốm bên sông, đồ gốm làm ra không cái nào méo mó hay vỡ vụn. Một năm, nơi ông ở đã thành tụ cư; hai năm thành thôn làng; ba năm thành thị trấn đông đúc.
Vua Nghiêu ban tặng Thuấn áo dệt, đàn cầm, xây kho chứa lúa, tặng bò và dê. Tuy nhiên, cha của Thuấn – Cổ Tẩu – vẫn muốn hại con. Một lần, ông sai Thuấn trèo lên mái kho, rồi ngầm đốt lửa từ dưới. Thuấn dùng hai cái nón tre che thân, nhảy xuống đất thoát chết. Lần khác, Cổ Tẩu sai Thuấn đào giếng. Thuấn đào giếng xong thì khoét ngách bí mật bên hông để thoát ra. Khi ông vừa vào sâu, cha và em cùng lấp đất xuống giếng để chôn sống. Nhưng Thuấn đã thoát được. Cha con Cổ Tẩu cho rằng ông đã chết. Em trai ông là Tượng bảo: “Chính ta nghĩ ra kế này.” Sau đó, Tượng chia tài sản: “Vợ của Thuấn là công chúa của vua Nghiêu, cây đàn cầm cũng là vua ban – ta sẽ lấy cả. Bò, dê, lúa thóc thì để lại cho cha mẹ.”
Tượng dọn vào nhà của Thuấn, ngồi đánh đàn cầm. Khi Thuấn trở về thăm, Tượng hoảng hốt, nói lảng: “Ta đang nhớ Thuấn đến phát buồn!” Thuấn điềm đạm nói: “Vậy là tốt, mong ngươi luôn như vậy.” Ông lại càng hiếu thuận với cha, càng yêu thương em trai.
Vua Nghiêu tiếp tục thử Thuấn bằng cách giao quản lý các bộ điển lễ và trăm quan. Thuấn đều hoàn thành tốt, mọi việc được trị yên.
Từ thời Cao Dương (tức Chuyên Húc) có tám người tài giỏi, dân gian gọi là “Bát Khải”. Thời Cao Tân (tức Đế Khốc) cũng có tám hiền sĩ, gọi là “Bát Nguyên”. Mười sáu dòng họ ấy đều đời đời giữ vững danh tiếng. Đến thời Nghiêu thì chưa có ai trọng dụng. Nay Thuấn tiến cử tám người họ Khải, giao phụ trách Hậu thổ, lo liệu trăm việc, mọi thứ đều vào nề nếp. Ông cử tám người họ Nguyên đi truyền bá Năm Giáo lý ra khắp bốn phương: cha phải có nghĩa, mẹ phải từ ái, anh phải thân thiện, em phải kính nhường, con phải hiếu thuận – trong yên ngoài trị.
Từ thời Hoàng Đế đến nay, vẫn tồn tại những dòng tộc xấu xa. Thời Đế Hồng có con bất tài, giả vờ nghĩa hiệp, lén lút hại người, ưa thích điều ác – dân gọi là Hỗn Độn. Thời Thiếu Hạo cũng có kẻ bất tài, bội tín, ghét người trung hậu, giỏi che đậy ngôn từ độc ác – dân gọi là Cùng Kỳ. Thời Chuyên Húc có đứa chẳng biết lễ nghĩa, không dạy bảo được – gọi là Đào Ngột. Ba họ ấy khiến thiên hạ lo ngại, mà đến thời Nghiêu vẫn chưa trừ được. Lại có hậu duệ của Tấn Vân – tham ăn uống, mê của cải – bị dân gọi là Thao Thiết, ghét chẳng kém ba họ trên. Thuấn bèn mở bốn cổng thành, đuổi bốn dòng họ này đi khai hoang nơi biên cương để chống yêu quái. Nhờ vậy, dân chúng an cư, chẳng còn bóng dáng kẻ xấu.
Thuấn từng vào rừng Đại Lộc, dù gió lớn, sấm chớp, mưa rào cũng không lạc đường, nhờ đó Nghiêu mới tin ông đủ sức nối ngôi Thiên tử. Khi Nghiêu già yếu, giao quyền nhiếp chính cho Thuấn và sai ông đi tuần thú bốn phương. Suốt hai mươi năm Thuấn được quyền chọn người làm việc lớn, rồi Nghiêu mới chính thức giao quyền nhiếp chính. Tám năm sau, Nghiêu qua đời. Sau ba năm để tang, Thuấn nhường lại cho con Nghiêu là Đan Chư, nhưng thiên hạ đều tìm đến Thuấn.
Những hiền tài như Vũ, Cao Dao, Tế, Hậu Tắc, Bác Di, Khuê, Long, Thùy, Ích, Bành Tổ – từ thời Nghiêu đã được trọng dụng nhưng chưa có chức vụ cụ thể. Thuấn bèn đến miếu Văn Tổ, bàn với các sơn thần, mở bốn cổng thành, thông đạt bốn phương, ra lệnh cho mười hai mục trưởng luận bàn công đức đế vương, thực hành đức dày, tránh kẻ nịnh, khiến mọi nơi quy phục.
Thuấn hỏi chư sơn: “Ai có thể làm rạng danh như Đế Nghiêu, giao cho trông coi việc nước?” Mọi người đều nói: “Bá Vũ có thể làm Tư Không, nổi bật với công trình thủy lợi.” Thuấn gật đầu: “Phải! Vũ, ngươi hãy trị thủy cho dân.” Vũ khấu đầu nhận mệnh nhưng muốn nhường cho Tắc, Tế và Cao Dao. Thuấn bảo: “Được, hãy lên đường.”
Ông lại nói: “Tắc, dân chúng thiếu ăn, ngươi hãy làm Hậu Tắc, gieo trồng ngũ cốc cho dân.”
Với Tế, ông nói: “Nhân dân chia rẽ, năm luân không thuận, ngươi hãy làm Tư đồ, dạy dân Năm Giáo, lấy khoan dung làm gốc.”
Với Cao Dao, ông nói: “Man Di gây rối Trung Hoa, trộm cướp nổi lên, ngươi hãy làm quan xử án, áp dụng ngũ hình, xét tội đúng luật. Ngươi sáng suốt, có thể tin cậy.”
Thuấn hỏi: “Ai có thể phụ trách ngành thợ thủ công cho ta?” Mọi người đều tiến cử Thùy. Thuấn phong Thùy làm Công quan.
Lại hỏi: “Ai phụ trách quản lý thảo mộc, chim thú trên rừng?” Mọi người tiến cử Ích. Ông phong Ích làm Ngự Lâm quan. Ích nhận chức, nhưng nhường cho Chu Hổ, Hùng Bì. Thuấn bảo: “Hãy cùng làm, các ngươi hòa hợp là được.”
Thuấn hỏi tiếp: “Ai lo nghi lễ cho ta?” Mọi người tiến cử Bác Di. Ông nói: “Bác Di, khanh hãy làm Tông quan, lo ba loại nghi lễ lớn, giữ gìn thanh khiết.” Bác Di lại nhường cho Khuê và Long.
Thuấn cho Khuê làm Nhạc quan, dạy trẻ con lễ nhạc. Ông nói: “Dạy phải chính trực mà ôn hòa, nghiêm khắc nhưng không hà khắc, giản dị mà không kiêu căng. Dùng thi để biểu ý, dùng ca để truyền đạo, âm thanh hợp luật, tám loại nhạc cụ hòa điệu, người và thần đều cảm động.”
Khuê đáp: “Chỉ cần ta đánh đá, mọi loài thú đều sẽ nhảy múa.”
Ông phong Long làm Tể tướng, giao nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh, cảnh giác thầy tướng, giữ gìn sự trung thực.
Cuối cùng, Thuấn nói với hai mươi hai người được dùng rằng: “Hãy kính cẩn phụng sự Trời.” Ba năm xét công, ba lần thì bãi hoặc thăng. Từ xa đến gần, ai cũng gắng làm việc. Thuấn còn chia dân Tam Miêu ở phương Bắc ra trấn giữ các vùng.
Hai mươi hai người ấy đều lập được công. Cao Dao làm Đại lý, xét án đúng lý, dân tâm phục; Bác Di chủ lễ, trên dưới nhường nhịn; Thùy phụ trách công tác, trăm nghề phồn thịnh; Ích lo rừng núi, mọi nơi an ổn; Tắc lo nông nghiệp, mùa màng bội thu; Tế dạy dân, nhân dân thuận hòa; Long đón tiếp khách, người phương xa đến đông đảo.
Mười hai mục trưởng thi hành chính sự, chín châu đều không dám cãi mệnh. Trong số đó, công lao của Vũ là lớn nhất – ông phá chín dãy núi, thông suốt chín vùng đầm lầy, khơi chín con sông lớn, phân định lại chín châu. Mỗi vùng đều nộp cống phẩm phù hợp. Từ trung nguyên rộng năm nghìn dặm đến các cõi xa xôi đều thuận phục. Phía nam là Giao Chỉ, phía bắc là Phát, phía tây có Nhung, Tích Chi, Khư Sưu, Đê, Khương; phía bắc có Sơn Nhung, Phát, Tức Thận; phía đông là Trường và Điểu Di. Bốn biển trong ngoài đều ngưỡng mộ công đức vua Thuấn. Vũ dâng “Cửu Chiêu Chi Nhạc”, đem các vật quý hiến lên. Chim phượng hoàng cũng bay đến.
Từ đó, mọi đức lớn trong thiên hạ đều khởi đầu từ vua Ngu Thuấn.
Thuấn hai mươi tuổi nổi danh vì hiếu, ba mươi tuổi được Nghiêu tiến cử, năm mươi tuổi nhiếp chính, năm mươi tám tuổi Nghiêu mất, sáu mươi mốt tuổi kế vị. Ông trị vì ba mươi chín năm, tuần phương Nam thì mất tại vùng đất Thương Ngô, được an táng ở Cửu Nghi, phía nam sông Giang – tức Linh Lăng.
Sau khi lên ngôi, ông vẫn giữ lễ, mang cờ vua đến chầu cha là Cổ Tẩu, hết mực khiêm cung, như đạo làm con. Phong em trai Tượng làm chư hầu.
Con của Thuấn là Thương Quân bất tài, nên ông sớm tiến cử Vũ với Trời. Sau mười bảy năm thì Thuấn mất. Mãn ba năm để tang, Vũ cũng nhường ngôi cho con Thuấn, như Thuấn từng nhường cho con Nghiêu. Nhưng chư hầu đều theo Vũ, rồi ông mới lên ngôi Thiên tử.
Con Nghiêu là Đan Chư, con Thuấn là Thương Quân – cả hai đều có lãnh thổ riêng để thờ cúng tổ tiên, ăn mặc theo nghi lễ như vua, đến triều kiến Thiên tử thì không phải lạy, để tỏ rằng họ không bị áp chế.
Từ Hoàng Đế đến Thuấn và Vũ, tuy cùng dòng giống nhưng lấy hiệu xưng nước khác nhau để biểu thị đức hạnh. Hoàng Đế gọi là Hữu Hùng, Chuyên Húc là Cao Dương, Đế Khốc là Cao Tân, Đế Nghiêu là Đào Đường, Đế Thuấn là Hữu Ngu, Đế Vũ là Hạ Hậu, họ Tự. Tế là tổ nhà Thương, họ Tử. Tắc là tổ nhà Chu, họ Cơ.
Thái sử công (Tư Mã Thiên) nói:
Người học thường nhắc đến Ngũ Đế từ lâu, nhưng sách Thượng Thư chỉ chép từ thời Nghiêu trở về sau; còn Bách Gia thì đề cập nhiều đến Hoàng Đế, song lời văn không trang nhã, bậc sĩ phu khó mà thuật lại. Có lần Khổng Tử truyền lại lời Tể Dư hỏi về đức của Ngũ Đế và dòng dõi – các nhà Nho có người không giữ truyền.
Ta từng đi về phía Tây đến Không Đồng, lên phía Bắc đến Trác Lộc, về phía Đông ra biển, xuôi phương Nam qua sông Giang sông Hoài, thấy người già nơi nơi vẫn nhắc đến chỗ ở của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, lời dạy khác biệt nhưng tổng thể đều gần gũi với cổ thư. Ta đọc Kinh Xuân Thu, Quốc Ngữ, thấy chỗ ghi chép về công đức và dòng dõi của Ngũ Đế khá rõ ràng. Tuy không điều tra sâu, nhưng những điều ghi lại đều không phải bịa đặt. Tuy sách cổ thất truyền rải rác, nhưng nhiều điều vẫn còn sót lại trong các lời truyền khác. Không phải người hiếu học, suy nghĩ sâu xa, thì khó lòng hiểu rõ ý nghĩa trong đó.
Vì thế, ta sắp xếp lại những gì được truyền đạt trang nhã nhất, đặt làm phần mở đầu cho thiên Bản Kỷ.
Hạ Bản Kỷ
Đại Vũ của nhà Hạ tên thật là Văn Mệnh. Cha của ông là Củn, ông nội là Đế Chuyên Húc, cụ là Xương Ất, và cao tổ là Hoàng Đế. Như vậy, Vũ là cháu bốn đời của Hoàng Đế, cháu nội của Đế Chuyên Húc. Cả Củn và Xương Ất đều không được lên ngôi Thiên tử, chỉ làm thần tử.
Vào thời vua Nghiêu, nước lũ dâng cao ngập trời, cuồn cuộn như muốn nuốt chửng núi non, khiến dân chúng khắp nơi khốn khổ. Nghiêu tìm người trị thủy, các quan và tứ nhạc đều tiến cử Củn. Nghiêu nói: “Củn từng phụ mệnh, khiến họ tộc bị tội, không thể dùng.” Nhưng tứ nhạc thưa: “Trong thiên hạ hiện không ai giỏi hơn Củn, xin bệ hạ cứ thử xem sao.” Nghiêu nghe theo, giao việc trị thủy cho Củn.
Chín năm trôi qua, lũ vẫn chưa dứt, công trình không thành. Lúc này, Nghiêu tìm người thay thế, chọn được Thuấn. Sau khi lên nhiếp chính và tuần thú bốn phương, Thuấn đi xem công việc trị thủy của Củn, nhận thấy hoàn toàn không ổn, bèn xử tội Củn tại núi Vũ – cho chết. Thiên hạ đều cho rằng việc Thuấn xử Củn là đúng.
Sau đó, Thuấn trọng dụng con của Củn là Vũ, giao cho ông tiếp tục sự nghiệp trị thủy của cha.
Khi vua Nghiêu qua đời, Thuấn hỏi tứ nhạc: “Ai có thể kế tục công nghiệp của vua Nghiêu để giao phó việc nước?” Mọi người đều đáp: “Bá Vũ có thể làm Tư Không, có thể hoàn thành công đức của Đế Nghiêu.” Thuấn nói: “Tốt lắm!” Rồi truyền lệnh cho Vũ: “Ngươi hãy trị thủy điều đất, gắng sức làm cho tốt.” Vũ khấu đầu nhận mệnh, khiêm nhường nhường lại cho Tế, Hậu Tắc, Cao Dao. Thuấn nói: “Ngươi cứ đi làm việc của mình đi.”
Vũ là người siêng năng, nhạy bén, có thể chịu khó, đức hạnh không trái lẽ, nhân từ dễ gần, lời nói có thể tin. Âm thanh của ông như luật lệ, thân thể như khuôn mẫu, làm gì cũng đo đạc cẩn thận, nghiêm trang mà nhẹ nhàng, đúng mực và quy củ.
Ông cùng với Ích và Hậu Tắc vâng mệnh Thiên tử, lệnh cho chư hầu và dân chúng tập hợp người làm để đắp đất, đi khắp núi non, đánh dấu cây cối, xác định địa thế núi sông. Vì thương cha mình là Củn đã thất bại và bị xử tử, nên Vũ lao lực suy nghĩ không ngơi nghỉ, sống ở ngoài suốt mười ba năm, đi ngang qua nhà cũng không dám vào.
Ông ăn mặc đơn sơ, giữ lòng hiếu với quỷ thần, ở nhà nghèo hèn, dồn chi phí cho việc đào kênh rạch. Đi đường bộ thì dùng xe, qua sông thì đi thuyền, vùng lầy thì dùng ván trượt, lên núi thì cưỡi ngựa lùn. Tay trái cầm dây đo, tay phải giữ thước góc, theo bốn mùa mà khai phá chín châu, mở thông chín đường, đào chín đầm lầy, đo chín ngọn núi.
Ông bảo Ích phát lúa giống cho dân chúng để trồng ở vùng thấp ẩm, sai Hậu Tắc cung cấp thức ăn cho dân nơi khan hiếm. Nếu nơi này thiếu, nơi kia dư thì điều tiết lẫn nhau cho đều, giúp chư hầu có của ăn. Vũ đích thân đi khảo sát từng nơi để định lễ vật cống nạp, ghi lại địa thế núi sông thuận tiện cho giao thông.
Vùng Kinh và Hoành Dương thuộc châu Kinh. Sông Giang và sông Hán đều đổ ra biển. Cửu Giang rất bằng phẳng, sông Đà và sông Thẩm đều đã có dòng ổn định, vùng đất Vân và Mộng đã được quản lý tốt. Đất nơi đây là bùn lầy, ruộng đất hạng trung hoặc dưới. Thuế khóa trung bình đến cao. Vật phẩm cống nạp gồm lông chim, đuôi trâu, răng thú, da thuộc, ba loại kim loại quý, gỗ thông, du, hoè, bách; đá mài, đá nhám, đá nhọn, chu sa; cùng với tre quý, gỗ làm cung tên. Ba nước đem nộp cống theo danh mục đã định, dâng cỏ thơm đựng trong hòm quý, vải đen đỏ, lụa thêu hoa. Vùng Cửu Giang dâng tặng con rùa lớn. Giao thông vận chuyển theo các tuyến sông Giang, Đà, Thẩm, Hán, rồi vượt qua sông Lạc, đến Nam Hà.
Châu Dự nằm giữa sông Kinh và sông Hoàng. Các sông Y, Lạc, Triền, Giản đều đổ vào Hoàng Hà. Thành ấp chính là Hình Bác, trải dài đến Minh Đô. Đất nơi đây là đất bùn, phì nhiêu. Ruộng tốt ở mức trên trung bình. Thuế trung bình. Cống nạp gồm sơn, tơ tằm, vải thô, gai bố; vải lông mịn, chuông đá điêu khắc. Hàng hóa được vận chuyển theo sông Lạc đến Hoàng Hà.
Châu Lương nằm ở Hoa Dương và Hắc Thủy. Các sông Ôn và Ba được khai khẩn; sông Đà và Thẩm đã có đường chảy rõ ràng. Núi Thái và Mông đã bình định; người Di đã hòa thuận. Đất nơi đây màu đen lam. Ruộng khá, thuế thấp đến trung bình. Vật phẩm cống gồm ngọc quý, sắt, bạc, vật khảm, đá nhọn, chuông đá; thú rừng như gấu, beo, cáo, chồn và da thú dệt sẵn. Từ vùng Tây Khuynh theo sông Hoàn đến Tiềm, qua sông Mẫn, nhập vào sông Vị rồi đổ vào Hoàng Hà.
Châu Ung ở vùng Hắc Thủy và Tây Hà. Sông Nhược chảy về phía Tây; sông Kinh nhập vào Vị ở đoạn cong. Sông Sơn và sông Tư cũng cùng nhập. Sông Phong và các phụ lưu hội về một mối. Các vùng Kinh, Kỳ đều đã quy phục, từ núi Chung Nam, núi Đôn Vật đến địa vực Điểu Thử đều đã khai phá. Đồng bằng được cải tạo đến tận Đô Dã. Đèo Tam Nguy đã vượt qua; người Tam Miêu đã quy phục. Đất nơi đây là đất vàng. Ruộng tốt nhất, thuế trung bình đến thấp. Cống nạp các loại ngọc như cầu, lân, lang can. Hàng hóa được vận chuyển qua sông Tích Thạch đến Long Môn và Tây Hà, rồi nhập vào sông Vị. Người Khôn Luân, Tích Chi, Khư Sưu – các bộ lạc Tây Nhung – đều lần lượt quy phục.
Chín dãy núi chính là: từ núi Khiên và núi Kỳ đến núi Kinh, băng qua sông Hoàng; từ Hổ Khẩu, Lôi Thủ đến Thái Nhạc; từ Để Trụ, Tích Thành đến Vương Ốc; từ Thái Hành, Thường Sơn đến Kết Thạch rồi ra biển; từ Tây Khuynh, Chu Ngữ, Điểu Thử đến Thái Hoa; từ Hùng Nhĩ, Ngoại Phương, Đồng Bách đến Phụ Vĩ; từ Bồ Trủng đến núi Kinh; từ Nội Phương đến Đại Biệt; từ sườn núi Ôn Sơn đến núi Hành Sơn, băng qua Cửu Giang đến vùng đất Phu Thiển.
Chín con sông lớn gồm:
- Sông Nhược khởi từ Hợp Lê, chảy vào vùng cát chảy.
- Sông Hắc Thủy chảy đến Tam Nguy, đổ ra biển Nam.
- Sông Hoàng khởi từ Tích Thạch, đến Long Môn, rồi nam tới Hoa Âm, đông đến Để Trụ, qua Minh Tân, tới Lạc Nhược, Đại Bì, bắc qua Giáng Thủy đến Đại Lục, rồi phân ra thành Cửu Hà, hợp thành sông Nghịch, đổ ra biển.
- Sông Bồ Trủng khởi từ Dạng Thủy, đông thành sông Hán, rồi thành sông Thương Lãng, qua Tam Thế, nhập vào Đại Biệt, rồi nhập Giang, thành hồ Bành Lệ, rồi thành Bắc Giang, đổ ra biển.
- Sông Ôn Sơn thành Giang, tách ra làm sông Đà, đến Ly, qua Cửu Giang, đến Đông Lăng, hội tại Hội Giang, rồi nhập Trung Giang, đổ vào sông Mai.
- Sông Diễn Thủy thành sông Tề, nhập vào sông Hoàng; rồi tách ra thành sông Hình, chảy ra phía bắc Đào Khâu, qua Hà, đến vùng Hoạch, qua Ôn, nhập biển.
- Sông Hoài khởi từ Đồng Bách, đông hợp với Tứ và Di, rồi đổ ra biển.
- Sông Vị khởi từ Điểu Thử, đông hội Phong, đông bắc đến Kinh, qua Sơ, Tư, nhập sông Hoàng.
- Sông Lạc khởi từ Hùng Nhĩ, đông bắc hội với sông Giản và sông Triền, đông hợp sông Y, rồi đông bắc nhập sông Hoàng.
Từ đó, chín châu quy về một mối, bốn vùng sâu xa đều đã có dân cư, chín dãy núi đã được khai thông, chín dòng sông đã được điều chỉnh dòng chảy, chín đầm lớn đã được đắp bờ ổn định, bốn biển đều hội tụ về trung nguyên. Sáu kho tàng quốc gia được chỉnh đốn, đất đai các vùng đều được đo đạc chính xác, việc thu thuế được cân nhắc cẩn thận, ba hạng ruộng đều có cách tính thuế hợp lý. Thiên tử ban đất và họ cho các vùng: “Ai có đức thì nên hưởng, không ai cản đường trẫm cả.”
Thiết lập chế độ ngũ phục (năm lớp vòng quanh vương đô):
- Cách kinh thành 500 dặm là Điền phục:
- 100 dặm đầu nộp thuế tổng hợp;
- 200 dặm nộp sản phẩm đã chế biến sơ;
- 300 dặm nộp bó cỏ làm quần áo;
- 400 dặm nộp kê;
- 500 dặm nộp gạo.
- Ngoài ra là Hầu phục (500 dặm):
- 100 dặm là dân thu lượm;
- 200 dặm là lãnh địa thuộc các nước nhỏ;
- 300 dặm là đất chư hầu.
- Ngoài ra là Tuy phục (500 dặm):
- 300 dặm dạy lễ nghĩa và văn hóa;
- 200 dặm giữ an ninh quân sự.
- Ngoài ra là Yêu phục (500 dặm):
- 300 dặm dành cho Di tộc;
- 200 dặm là người nước Sái.
- Ngoài ra là Hoang phục (500 dặm):
- 300 dặm là đất Man;
- 200 dặm là đất Lưu dân.
Phía đông tiến ra biển, phía tây vươn tới vùng cát chảy; bắc và nam đều tới nơi xa nhất. Lời dạy và ảnh hưởng của nhà vua lan khắp bốn biển. Lúc này, Thiên tử ban cho Vũ ngọc huyền khuê, công bố ông đã hoàn thành đại nghiệp. Thiên hạ từ đó thái bình.
Khi ấy, Cao Dao làm quan hình pháp, lo việc cai trị dân. Một hôm, tại triều đình, vua Thuấn ngồi nghe ba người là Vũ, Bác Di và Cao Dao bàn luận.
Cao Dao nói: “Lấy đạo đức làm gốc, lấy sáng suốt mà phụ trợ, dạy dân hòa thuận.”
Vũ hỏi: “Vậy phải làm sao?”
Cao Dao đáp: “Trước hết phải tu thân, có cái nhìn xa, sắp xếp tốt chín bậc thân tộc, chọn người giỏi làm cánh tay, từ gần đến xa, đều phải dựa vào bản thân mình.”
Vũ nghe vậy khấu đầu: “Phải!”
Cao Dao tiếp: “Phải biết dùng người, làm cho dân yên.”
Vũ nói: “Phải, đó mới là khó của bậc Đế. Biết người là trí, biết dùng người là khả năng trị nước; làm dân an ổn là nhân, khiến dân kính phục. Đã biết người và nhân đức, thì còn sợ gì Hoan Đâu, còn phải dời người Hữu Miêu, còn e gì kẻ nịnh giảo hoạt?”
Cao Dao nói: “Phải. Hành vi đạo đức có chín điều, nếu người có đủ, mới gọi là có đức.”
Ông nói:
- Khi bắt đầu thì rộng lượng nhưng có kỷ luật
- Mềm mỏng nhưng cương quyết
- Có lòng muốn làm và biết chia sẻ
- Trị việc có nghiêm và có kính
- Nhu thuận mà kiên trì
- Chính trực mà hiền hòa
- Giản dị mà liêm khiết
- Cứng rắn mà chân thực
- Mạnh mẽ mà công chính
Người như thế giữ đạo thường xuyên thì tốt đẹp biết bao! Mỗi ngày dạy ba đức, sáng tối gắng sức để quản gia đình; mỗi ngày giữ nghiêm sáu đức, làm rạng rỡ quốc gia. Nếu người nào có đủ chín đức, ban ơn rộng rãi, chọn người hiền tài thì trăm quan đều cung kính, không dám làm điều tà vạy. Nếu để người không xứng làm quan, tức là loạn phép Trời, sẽ bị Trời giáng tội. Năm hình phạt đều có thể dùng. Lời ta nói, có thể thực hành được chăng?”
Vũ đáp: “Lời ông nói, thật có thể làm được.”
Cao Dao nói: “Ta còn chưa đủ hiểu biết, nguyện dốc lòng học đạo.”
Vua Thuấn hỏi Vũ: “Ngươi cũng nói vài điều đi.”
Vũ vái chào thưa: “Tôi còn có gì để nói? Tôi chỉ ngày đêm lo nghĩ mà thôi.”
Cao Dao hỏi: “Thế nào là ‘lo nghĩ’?”
Vũ đáp: “Lũ lớn ngập trời, tràn qua núi non, dân khốn khổ vì nước. Tôi đi bộ thì cưỡi xe, qua nước thì đi thuyền, lội bùn dùng ván, lên núi dùng ngựa. Tôi cùng Ích cho dân giống lúa dễ trồng; khai thông chín sông để dẫn về bốn biển, nạo vét kênh ngòi cho thông với sông lớn. Cùng Hậu Tắc cấp lương thực khó kiếm cho dân. Khi nơi này thiếu, nơi kia thừa thì điều tiết lẫn nhau, thậm chí dời dân đến nơi mới. Nhờ đó, dân yên ổn, muôn nước trị hòa.”
Cao Dao nói: “Phải, đó là điều tốt đẹp nhất.”
Vũ nói: “Tâu bệ hạ! Xin ngài cẩn thận giữ gìn ngôi vị, yên ổn ở nơi mình. Nếu tu dưỡng đức hạnh thì thiên hạ sẽ thuận theo. Tâm ý phải trong sáng để đón nhận mệnh Trời. Khi Trời ban mệnh là sẽ có phúc.”
Vua đáp: “Ôi! Các khanh là tai mắt, tay chân của trẫm. Trẫm mong dân ở khắp nơi đều thuận, khanh hãy phụ giúp. Trẫm muốn tìm hiểu các biểu tượng xưa – như mặt trời, mặt trăng, sao trời – thêu dệt trên y phục cho hợp màu sắc, khanh hãy tường tận. Trẫm muốn nghe âm nhạc: sáu luật, năm âm, tám điệu, từ khúc trơn tru đến lời ca thành tiếng – khanh hãy lắng nghe. Nếu trẫm có lầm lỗi, khanh hãy can gián. Đừng nịnh bợ trước mặt, rồi lại gièm chê sau lưng. Hãy kính trọng bốn vị phụ tá chính. Nếu xa rời điều này, để kẻ gièm nịnh lộng hành, thì đức vua sẽ bị làm cho ô uế.” Vũ đáp: “Phải. Nếu vua không giữ đúng thời thế, khen chê không phân minh thì mọi công lao đều bằng không.”
Vua lại nói: “Đừng như Đan Chư – kiêu ngạo, chỉ thích vui chơi, xu phụ kẻ xấu, khiến cho dòng dõi bị tuyệt. Trẫm không thể thuận theo loại người như vậy.”
Vũ thưa: “Khi tôi cưới con gái họ Đồ, vào năm Tân Nhâm, đến năm Quý Giáp sinh ra con là Khải. Dù tôi không có thời gian chăm sóc con, nhưng nhờ vậy mà tôi có thể toàn tâm trị thủy, giúp ổn định đất nước. Tôi góp phần hoàn thiện chế độ ngũ phục (năm vùng bao quanh thiên tử), trải dài đến năm nghìn dặm, chia thiên hạ làm mười hai châu, ngoài biển đều có người phụ trách, các đạo đều lập trưởng, ai nấy làm tròn bổn phận. Người Miêu ngoan cố không chịu quy thuận, mong hoàng thượng để tâm xử lý.”
Vua nói: “Ngươi nói rõ đức ta, là nhờ công lao của ngươi vậy.”
Cao Dao hết sức kính phục đức hạnh của Vũ, ra lệnh dân chúng lấy Vũ làm gương. Ai không làm theo thì sẽ bị xét xử theo pháp luật. Đức của vua Thuấn lúc ấy đã rạng ngời.
Khi Khuê hòa nhạc, tổ tiên hiện về, chư hầu nhường nhịn nhau, chim muông cùng múa. Nhạc khúc Tiêu Thiều được diễn tấu đủ chín tiết, phượng hoàng bay đến, muôn thú cùng múa nhịp, trăm quan hòa thuận. Vua dùng đó làm bài hát rằng:
“Nhận mệnh Trời, phải biết nắm lấy đúng lúc.”
Rồi lại hát:
“Cánh tay phò tá vui thay!
Chủ tướng vững vàng đứng dậy!
Trăm nghề thịnh trị thay!”
Cao Dao bái lạy, lớn tiếng ca rằng:
“Hãy nhớ kỹ, cùng nhau khởi việc lớn,
Giữ nghiêm luật lệ, hết lòng kính cẩn!”
Lại ca rằng:
“Chủ tướng sáng suốt thay,
Phò tá trung thành thay,
Vạn sự thịnh trị thay!”
Vua lại ca:
“Nếu chủ tướng rối ren,
Phò tá lười biếng,
Thì muôn việc đều đổ nát!”
Vua lạy mà nói: “Phải vậy! Hãy cẩn thận!”
Từ đó, thiên hạ đều lấy âm nhạc, pháp độ, đo lường của Vũ làm khuôn mẫu, lập thần vị cho núi sông.
Vua Thuấn tiến cử Vũ với Trời làm người kế vị. Mười bảy năm sau, vua Thuấn qua đời. Sau ba năm để tang, Vũ nhường ngôi cho con vua Thuấn là Thương Quân, ở đất Dương Thành. Nhưng chư hầu đều rời bỏ Thương Quân, đến chầu Vũ. Vũ lên ngôi Thiên tử, quay mặt về phương Nam, xưng là Hạ Hậu, họ Tự.
Sau khi lên ngôi, Vũ tiến cử Cao Dao, giao cho trọng trách, nhưng chẳng bao lâu Cao Dao mất. Vũ phong hậu duệ Cao Dao ở đất Anh và Lục, có người ở đất Hứa. Sau đó, ông tiến cử Ích thay thế, giao việc cai trị.
Mười năm sau, vua Vũ đi tuần phương Đông, đến Hội Kê thì qua đời. Trước khi mất, ông đã truyền ngôi cho Ích. Sau ba năm để tang, Ích nhường lại ngôi cho con vua Vũ là Khải, rồi lui về sống ở phía Nam núi Ký. Khải là người hiền, được lòng thiên hạ. Dù Vũ đã truyền ngôi cho Ích, nhưng vì thời gian Ích trợ giúp Vũ không lâu, chưa có uy tín rộng khắp, nên các chư hầu đều bỏ Ích, theo Khải, nói rằng: “Khải là con của vua Vũ, là con chính thống.” Khải vì vậy mà lên ngôi Thiên tử, trở thành vua Hạ Hậu Khải.
Khải là con vua Vũ, mẹ là con gái họ Đồ.
Bộ tộc Hữu Hỗ không chịu thần phục. Khải thân chinh đánh dẹp, đại chiến ở đất Cam. Trước trận, ông lập Cam Thệ, triệu sáu đại thần mà tuyên cáo rằng:
“Ôi chư khanh! Ta thề với các ngươi:
Hữu Hỗ kiêu ngạo, làm trái ngũ hành, bỏ lề chính đạo, Trời đã quyết diệt.
Nay ta thay Trời hành phạt.
Trái đánh trái, phải đánh phải, kẻ không tuân lệnh – là trái mệnh Trời.
Xe cưỡi sai ngựa – trái lệnh Trời.
Ai tuân lệnh, được thưởng tại miếu tổ;
Ai trái lệnh, bị xử tại xã thần.
Ta sẽ không tha kẻ đó.”
Rồi ông tiêu diệt Hữu Hỗ, thiên hạ đều đến chầu.
Sau khi vua Khải mất, con là Thái Khang lên ngôi. Nhưng Thái Khang hoang dâm vô đạo, mất nước. Năm người em họ chờ ở bờ sông Lạc, viết bài “Ngũ tử chi ca” (Bài ca năm anh em).
Thái Khang mất, em là Trung Khang lên ngôi, hiệu là Đế Trung Khang. Lúc đó, dòng họ Nghi và Hòa sa đọa, bỏ bê công việc, làm rối loạn lịch pháp. Ấn phải dẫn quân đi dẹp, viết nên bài “Ấn chinh”.
Trung Khang mất, con là Tướng lên ngôi. Tướng mất, con là Thiếu Khang nối ngôi. Thiếu Khang mất, con là Dư lên ngôi. Dư mất, con là Hoài lên. Hoài mất, con là Mang lên. Mang mất, con là Tiết lên. Tiết mất, con là Bất Giáng lên. Bất Giáng mất, em là Khuynh nối ngôi. Khuynh mất, con là Khẩn lên. Khẩn mất, đến cháu nội của Bất Giáng là Khổng Giáp lên, tức vua Khổng Giáp.
Vua Khổng Giáp ham mê tà thuật, thờ quỷ thần, sinh ra chuyện dâm loạn. Đức nhà Hạ suy thoái, chư hầu bắt đầu phản. Trời giáng hai con rồng, một đực một cái, nhưng Khổng Giáp không biết nuôi, phải tìm đến họ Phuẫn Long để học cách thuần dưỡng. Khi họ Đào Đường suy, có hậu duệ là Lưu Lũy học nuôi rồng từ họ Phuẫn Long, dâng lên Khổng Giáp. Khổng Giáp ban cho họ một cái họ mới là Ngự Long thị, cho cư trú ở đất Thỉ Vi. Một trong hai con rồng cái chết, Khổng Giáp lấy làm tiệc ăn, lại sai người đi tìm con rồng còn lại, nhưng vì sợ hãi nên nó đã bỏ đi.
Khổng Giáp mất, con là Cao lên ngôi. Cao mất, con là Phát kế vị. Phát mất, con là Lữ Quý lên ngôi – tức vua Kiệt. Từ thời Khổng Giáp trở đi, các chư hầu phần lớn đã rời bỏ triều Hạ. Vua Kiệt không chăm lo đức hạnh, dùng vũ lực đàn áp dân chúng, khiến người người oán than.
Ông từng bắt giam vua Thương là Thành Thang tại Hạ Đài, sau lại thả ra. Thang tu dưỡng đức hạnh, chư hầu đều quy phục. Thang bèn khởi binh đánh Hạ Kiệt. Kiệt thua, bỏ chạy về đất Minh Điều, rồi bị lưu đày và chết.
Trước khi chết, Kiệt than rằng: “Giá như ta giết Thang luôn tại Hạ Đài thì đâu đến nỗi này!”
Sau đó, Thang lên ngôi Thiên tử, thay thế nhà Hạ cai trị thiên hạ. Vua Thang phong cho hậu duệ nhà Hạ, đời sau đến thời Chu thì phong ở đất Kỷ.
Thái sử công (Tư Mã Thiên) nói:
Vũ mang họ Tự. Hậu duệ của ông sau này được phong quốc, lấy tên nước làm họ, cho nên mới có các họ như: Hạ Hậu, Hữu Hỗ, Hữu Nam, Châm Tầm, Đồng Thành, Bao, Phí, Kỷ, Tằng, Tân, Minh, Châm Qua… Khổng Tử từng chỉnh lý lịch pháp nhà Hạ. Nhiều học giả truyền lại cuốn Hạ Tiểu Chính.
Từ thời Ngu và Hạ, chế độ thuế cống đã hoàn chỉnh. Có người nói Vũ từng họp chư hầu ở phía nam sông Giang, kiểm kê công lao rồi mất tại đó, được an táng và đặt tên nơi ấy là Hội Kê. “Hội Kê” nghĩa là nơi hội họp và tính toán.
Ân Bản Kỷ
Tổ tiên của nhà Ân là Khế. Mẹ ông là Giản Địch, con gái họ Hữu Tư, là thứ phi của Đế Khốc. Một hôm, ba người đi tắm, thấy một con chim huyền điểu (chim đen thiêng) bay qua và để rơi một quả trứng. Giản Địch bèn nhặt lấy và nuốt vào, rồi mang thai sinh ra Khế.
Khi trưởng thành, Khế theo Đại Vũ trị thủy và lập nhiều công lớn. Vua Thuấn phong Khế làm Tư đồ, nói rằng: “Dân chúng xa cách, năm luân không thuận, khanh hãy đảm nhiệm việc giáo hóa, lấy lòng khoan dung mà dạy dân theo năm đạo.” Sau đó, Khế được phong đất ở Thương, ban họ là Tử. Ông xuất hiện vào thời Đường Nghiêu, vua Thuấn và Đại Vũ, công lao sáng chói trong dân gian, thiên hạ nhờ ông mà được yên ổn.
Sau khi Khế qua đời, con là Chiêu Minh nối ngôi. Chiêu Minh mất, con là Tướng Thổ lên thay. Sau đó là Xương Nhược, rồi đến Tào Ngữ, tiếp theo là Minh, rồi đến Chấn, Vi, Bá Đinh, Bá Ất, Bá Bính, Chủ Nhâm, Chủ Quý. Đến đời con cháu là Thiên Ất thì chính là vua Thành Thang – người khai sáng triều Thương.
Từ đời Khế đến Thang, dòng họ đã tám lần dời đô. Khi lên ngôi, Thang định đô tại đất Bạc, theo nơi ở của các vua trước, lập ra chế độ triều chính và truyền mệnh.
Thang bắt đầu phạt các chư hầu. Khi nước Cát không tế lễ thần linh, Thang đã khởi binh đánh. Ông nói: “Người ta nhìn vào nước để thấy hình mình, nhìn vào dân để biết mình trị nước ra sao.” Y Doãn tán thưởng: “Lời nói thật sáng suốt! Lắng nghe lời hay thì đạo lý mới tiến tới. Một người trị nước, thương dân, thì người hiền đều sẽ quy về triều đình. Hãy cố gắng! Hãy cố gắng!”
Thang nói: “Nếu các ngươi không kính mệnh Trời, ta sẽ nghiêm trị, không dung tha.” Rồi làm bài Thang chinh, ghi lại việc Thang xuất binh.
Y Doãn tên thật là A Hành. Ban đầu, ông muốn phụng sự vua Thang nhưng không có đường nào tiếp cận, nên giả làm người hầu cho họ Hữu Thân, gánh vạc và khay, dùng tài nấu nướng để thuyết phục Thang về đạo lý vương đạo. Có thuyết khác cho rằng Y Doãn là một ẩn sĩ, được Thang cử người đến mời năm lần mới chịu ra giúp, rồi bàn chuyện vua Thánh và chín vị chủ tướng trong lịch sử. Sau đó, Thang phong Y Doãn giữ trọng trách quốc sự.
Y Doãn từng rời Thang sang nước Hạ, thấy nhà Hạ tàn tệ, bèn trở về Bạc. Ông vào thành từ cổng Bắc, gặp hai cô gái là Nữ Cưu và Nữ Phòng, rồi viết nên bài Nữ Cưu Nữ Phòng.
Một hôm, Thang ra đồng, thấy có người giăng lưới bốn phía, miệng khấn: “Mong mọi sinh vật bốn phương đều chui vào lưới ta.” Thang nói: “Than ôi, vậy là tàn ác quá!” rồi dỡ bỏ ba phía, chỉ giữ một mặt, và đổi lời khấn: “Nếu muốn đi trái, thì đi trái. Muốn đi phải, thì đi phải. Ai không nghe lệnh Trời mới vào lưới ta.” Các chư hầu nghe chuyện đều tán thưởng: “Đức của Thang đến cả chim thú cũng cảm được.”
Lúc đó, vua Kiệt nhà Hạ tàn bạo vô đạo, chư hầu như nước Côn Ngô cũng nổi loạn. Thang bèn khởi binh, dẫn các chư hầu, cùng Y Doãn theo phò. Ông thân chinh cầm búa lớn đánh Côn Ngô, rồi tiếp tục tiến đánh Kiệt.
Thang nói: “Hỡi muôn dân, hãy nghe ta nói! Không phải kẻ nhỏ bé như ta dám khởi binh làm loạn, mà là nhà Hạ phạm nhiều tội lỗi. Ta chỉ lắng nghe tiếng dân mà hành động. Họ Hạ có tội, ta vì kính sợ Trời mà không thể không trừng trị. Nay tội của Hạ đã chất chồng, Trời ban mệnh trừng phạt. Các ngươi nói: ‘Vua ta không lo cho chúng ta, bỏ việc canh tác, chỉ lo cắt xén quyền dân’. Lại hỏi: ‘Nếu vua có tội thì sao?’ Vua Hạ chỉ biết cưỡng ép, cướp bóc dân, khiến ai cũng oán than, bảo: ‘Ngày nào mới thoát khỏi khổ ải? Cả vua lẫn dân đều sẽ chết!’ Nếu nhà Hạ đã thế, thì nay ta sẽ đi. Các ngươi cùng ta đem mệnh Trời trừng phạt hắn, ta sẽ công bằng xử các ngươi. Đừng nghi ngờ, ta không thất hứa. Ai không giữ lời thề, ta sẽ trừng trị nặng, không dung thứ.”
Thang truyền lệnh cho quân đội, viết nên Thang thệ. Ông nói: “Ta thật sự mạnh mẽ!” và tự xưng là Vũ Vương.
Vua Kiệt thua trận ở đất Hữu Tư, phải chạy đến Minh Điều. Quân Hạ đại bại. Thang sau đó tiến đánh vùng Tam Tung, bắt được ngọc quý và châu báu. Các vị quan nghĩa sĩ như Nghĩa Bá, Trọng Bá được giao trông coi bảo vật.
Sau khi thắng nhà Hạ, Thang định dời miếu tổ của Hạ, nhưng không được phép, bèn lập đền thờ riêng cho Hạ gọi là Hạ xã. Y Doãn làm bài Y Doãn phục tấu. Các chư hầu đều thần phục. Thang lên ngôi Thiên tử, bình định thiên hạ.
Thang trở về đến đất Thái Quyển, vào vùng đất đào, làm bài Trung lũy cáo. Sau khi dẹp bỏ nhà Hạ, ông quay về Bạc, làm Thang cáo, viết:
“Vào tháng Ba, trẫm ra ngoài đông giao, tuyên cáo các chư hầu:
‘Hãy vì dân mà lập công, cần mẫn lo việc nước. Ai trái lệnh, trẫm sẽ nghiêm trị, chớ oán trách trẫm.’
Ngày xưa, Vũ và Cao Dao lặn lội nơi núi rừng, có công với dân, nên dân được an cư.
Phía đông là sông Giang, bắc là sông Tề, tây là sông Hoàng, nam là sông Hoài – bốn con sông đều đã thông, vạn dân có nơi ở.
Hậu Tắc gieo trồng, ngũ cốc sinh sôi. Ba công thần đều có công với dân, nên đời sau được lập nước.
Xưa kia, Xích Du cùng các đại phu làm loạn dân chúng, nên Trời không cho giữ nước.
Lời các bậc thánh đế truyền lại, không thể không nghiêm túc thực hiện.’
Nếu không theo đạo, đừng ở trong nước, chớ trách ta!”
Đó là lời Thang răn bảo chư hầu. Y Doãn soạn Hàm Hữu Nhất Đức, Cữu Đơn làm bài Minh Cư.
Khi Thang qua đời, thái tử Thái Đinh chưa kịp nối ngôi thì cũng mất. Vì thế, người em của Thái Đinh là Ngoại Bính được lập lên ngôi, tức là vua Ngoại Bính. Ông trị vì ba năm thì mất, em ông là Trung Nhâm lên thay, gọi là vua Trung Nhâm.
Vua Trung Nhâm trị vì bốn năm thì mất, Y Doãn liền lập con trai của Thái Đinh là Thái Giáp lên ngôi. Thái Giáp là cháu nội đích tôn của vua Thang, tức là vua Thái Giáp. Năm đầu tiên Thái Giáp lên ngôi, Y Doãn soạn các sách Y huấn, Tứ mệnh, và Tồ hậu để giáo hóa nhà vua.
Nhưng sau ba năm, Thái Giáp lộ rõ tính khí tàn bạo, tàn nhẫn, không noi theo phép tắc của vua Thang, làm rối loạn đạo đức chính sự. Y Doãn bèn đày ông đến cung Đồng, tự mình nhiếp chính, thay mặt cai trị, tiếp đãi chư hầu như thường.
Ba năm sau, Thái Giáp ở cung Đồng hối cải ăn năn, tự trách bản thân và sửa mình hướng thiện. Thấy vậy, Y Doãn bèn nghênh đón Thái Giáp trở về, trao trả chính quyền. Từ đó, Thái Giáp sửa đức, thi hành chính sự đúng mực, các chư hầu đều quy phục nhà Ân, dân chúng yên ổn. Y Doãn khen ngợi ông, viết ba thiên Thái Giáp huấn, ca ngợi Thái Giáp, tôn ông là Thái Tông.
Thái Tông qua đời, con là vua Ốc Đinh lên ngôi. Đến thời vua Ốc Đinh, Y Doãn cũng mất. Thi hài ông được an táng ở đất Bạc. Quan đại thần Cữu Đơn ghi chép công trạng của Y Doãn và viết nên thiên Ốc Đinh.
Ốc Đinh mất, em là Thái Canh lên thay, tức là vua Thái Canh. Vua Thái Canh mất, con là Tiểu Giáp nối ngôi. Tiểu Giáp mất, em là Ung Kỷ lên thay, tức là vua Ung Kỷ. Từ thời vua Ung Kỷ, nhà Ân bắt đầu suy yếu, nhiều chư hầu không đến triều cống.
Sau khi vua Ung Kỷ mất, em là Thái Vũ lên thay, tức là vua Thái Vũ. Ông lập Y Xích làm tể tướng. Một hôm, ở sân triều của kinh đô Bạc mọc lên cây dâu to tướng, sáng mọc chiều đã cao ngút. Thái Vũ lấy làm lo, hỏi Y Xích. Y Xích tâu rằng: “Thần nghe nói yêu dị không thắng được đức. Có lẽ chính sự của bệ hạ có điều khiếm khuyết, xin hãy tu đức.” Thái Vũ nghe theo, sau đó cây dâu lạ kia tự khô héo mà biến mất.
Y Xích sau đó tiến cử thầy bói Vu Hàm vào cung để trợ giúp vua. Vu Hàm chỉnh đốn triều chính, nhà vua có thành tựu lớn, nên ông viết thiên Hàm ải và Thái Vũ. Thái Vũ cảm ơn Y Xích, vinh danh ông trong miếu tổ, nhưng Y Xích khiêm tốn từ chối. Ông viết Nguyên mệnh để bày tỏ lòng trung. Từ đó nhà Ân lại hưng thịnh, chư hầu quy phục, nên Thái Vũ được truy tôn là Trung Tông.
Trung Tông mất, con là vua Trung Đinh lên thay. Ông dời đô về đất Ngao. Quan đại thần Hà Đản Giáp ở lại vùng đất Tương. Sau đó, tổ phụ Ất lại dời đô đến đất Hình. Vua Trung Đinh mất, em là Ngoại Nhâm lên thay, tức vua Ngoại Nhâm. Về đời vua Trọng Đinh thì sử sách không ghi đủ. Vua Ngoại Nhâm mất, em là Hà Đản Giáp lên thay, tức vua Hà Đản Giáp. Dưới thời Hà Đản Giáp, nhà Ân lại suy yếu.
Hà Đản Giáp mất, con là tổ phụ Ất nối ngôi. Dưới thời vua tổ phụ Ất, nhà Ân lại phục hưng. Vu Hiền được trọng dụng, đảm nhiệm triều chính.
Tổ phụ Ất mất, con là tổ Tân nối ngôi. Tổ Tân mất, em là Uất Giáp lên thay, tức vua Uất Giáp. Uất Giáp mất, con của tổ Tân là tổ Đinh nối ngôi. Tổ Đinh mất, cháu của Uất Giáp là Nam Canh lên thay, tức vua Nam Canh. Nam Canh mất, con của tổ Đinh là Dương Giáp lên thay, tức vua Dương Giáp. Dưới thời Dương Giáp, nhà Ân lại suy yếu.
Từ thời Trung Đinh trở đi, triều đình không lập con trưởng mà thường chọn em hoặc cháu kế vị, dẫn đến tình trạng tranh giành trong nội tộc kéo dài chín đời, khiến chư hầu không còn đến triều kiến nữa.
Sau khi vua Dương Giáp mất, em là Bàn Canh lên thay, tức vua Bàn Canh. Khi đó, kinh đô nhà Ân nằm ở phía bắc sông Hoàng Hà. Bàn Canh dời đô sang phía nam sông, trở về nơi ở cũ của vua Thành Thang, tức là đất Bạc. Tính ra đã năm lần dời đô mà chưa định chỗ ở. Dân Ân ai nấy đều oán trách, không muốn dời. Bàn Canh bèn gọi các chư hầu và đại thần đến khuyên rằng: “Xưa tổ cao Thang cùng tổ tiên các khanh dẹp yên thiên hạ, quy tắc đã định, lẽ nào không noi theo để thành đức?” Rồi ông dời đô về đất Bạc, thi hành chính sự theo gương vua Thang, nhờ đó dân chúng yên ổn, nhà Ân phục hưng. Các chư hầu đến triều cống vì nể đức của vua.
Sau khi vua Bàn Canh mất, em là Tiểu Tân lên ngôi, tức vua Tiểu Tân. Dưới thời Tiểu Tân, nhà Ân lại suy yếu, dân chúng nhớ tiếc công đức của Bàn Canh, nên viết ba thiên Bàn Canh để tưởng niệm.
Vua Tiểu Tân mất, em là Tiểu Ất nối ngôi, tức vua Tiểu Ất.
Tiểu Ất mất, con là Vũ Đinh nối ngôi. Vũ Đinh khi mới lên ngôi, một lòng muốn phục hưng nhà Ân, nhưng chưa tìm được người trợ giúp. Ba năm ông không nói gì, mọi việc triều chính đều giao cho thượng thư quyết định, ông âm thầm quan sát phong tục trong dân. Một đêm, Vũ Đinh mộng thấy một bậc thánh nhân tên là Thuyết. Sáng hôm sau, ông truyền lệnh cho quan thợ cả đi khắp nơi tìm người giống như trong mộng, cuối cùng tìm được Thuyết ở vùng Phụ Hiểm.
Lúc ấy Thuyết đang làm phu khuân vác, xây dựng ở Phụ Hiểm. Gặp vua Vũ Đinh, ông lập tức nhận ra đây chính là người trong mộng. Sau khi đàm đạo, thấy quả là bậc thánh nhân, vua bèn phong Thuyết làm tể tướng. Từ đó quốc gia đại trị. Vua ban cho họ Phụ Hiểm, gọi là Phụ Thuyết.
Một hôm, vua Vũ Đinh tế lễ Thành Thang. Hôm sau có một con chim trĩ bay lên đậu vào vành tai nồi lễ rồi gáy vang. Vua lấy làm lo sợ. Quan tổ tế là Tổ Kỷ khuyên: “Xin bệ hạ đừng lo, hãy sửa sang chính sự trước đã.” Rồi Tổ Kỷ dạy rằng: “Trời xét đạo lý ở dưới, ban cho đời sống dài hay ngắn, không phải vì Trời đoản mệnh mà do người không thuận đức. Khi dân không thuận đức, không nghe lời răn, Trời liền lấy lại mệnh để sửa lại đạo lý. Xin bệ hạ hết lòng kính dân, đi theo mệnh Trời, giữ lễ thường xuyên, chớ bỏ đạo mà rối loạn.” Vua Vũ Đinh nghe theo, chỉnh đốn triều chính, thi hành đức hạnh, thiên hạ vui mừng, nhà Ân lại hưng thịnh.
Sau khi vua Vũ Đinh mất, con trai là Tổ Canh lên ngôi. Tổ Kỷ vì khen ngợi công đức của Vũ Đinh nhờ điềm lành chim trĩ, nên lập miếu thờ gọi là Cao Tông, đồng thời soạn các thiên Cao Tông Dung Nhật và Huấn để răn dạy.
Tổ Canh mất, em là Tổ Giáp lên thay, tức là vua Giáp. Vua Giáp dâm loạn, khiến nhà Ân lại suy yếu.
Giáp mất, con là Lẫm Tân nối ngôi. Lẫm Tân mất, em là Canh Đinh lên thay, tức là vua Canh Đinh. Canh Đinh mất, con là Vũ Ất lên ngôi. Lúc này nhà Ân dời khỏi đất Bạc, dời đô sang phía bắc sông Hoàng Hà.
Vua Vũ Ất vô đạo, làm hình nhân đặt tên là “Thiên thần”, cùng đánh cờ với chúng, sai người điều khiển cho “Thiên thần” chơi. Khi “Thiên thần” thua, vua liền làm nhục hình nhân. Lại còn làm bao da chứa máu, rồi giương cung bắn vào, gọi đó là “bắn trời”. Trong một lần đi săn giữa vùng sông Hà và sông Vị, bỗng nổi giông sấm dữ dội, Vũ Ất bị sét đánh chết.
Con là Thái Đinh lên nối ngôi. Thái Đinh mất, con là vua Ất kế vị. Dưới thời vua Ất, nhà Ân càng thêm suy yếu.
Vua Ất có con trưởng là Vi Tử Khải, nhưng vì mẹ Vi Tử là người có thân phận thấp kém nên không được chọn làm người kế vị. Người con út là Tử Tân, do chính hậu sinh ra, nên được lập làm thái tử. Khi vua Ất mất, Tử Tân lên ngôi, tức là vua Tân, dân gian gọi là Trụ Vương.
Trụ Vương có tài biện luận sắc bén, phản ứng nhanh, trí nhớ và năng lực hơn người, có thể tay không đánh chết mãnh thú. Nhưng ông dùng trí để chống lại lời can gián, dùng lời để che giấu lỗi lầm, tự cao với quần thần, khinh thường thiên hạ, cho rằng ai cũng thua kém mình. Ông say mê rượu chè, truỵ lạc, mê mẩn phụ nữ, đặc biệt sủng ái Đát Kỷ, chuyện gì cũng nghe theo lời nàng.
Ông sai thầy Nhuyễn sáng tác những điệu nhạc dâm loạn, vũ khúc Bắc Lý, những giai điệu uốn éo suy đồi. Ông tăng thuế để tích trữ vàng bạc trong Lộc Đài, chất lúa thóc đầy kho Cự Kiều. Thu gom chó ngựa, kỳ vật quý hiếm để trang hoàng cung điện. Mở rộng vườn thượng uyển Sa Khâu, bắt vô số dã thú, chim lạ nhốt vào đó.
Trụ Vương khinh thường thần linh, tổ chức yến tiệc xa hoa ở Sa Khâu, xây hồ rượu, treo thịt thành rừng, bắt nam nữ khỏa thân đuổi nhau vui chơi, uống rượu suốt đêm không nghỉ.
Dân chúng oán thán, nhiều chư hầu bắt đầu phản loạn. Trụ Vương vì thế đặt ra hình phạt cực ác như thiêu sống, phanh thây. Ông phong Tây Bá Xương, Cửu Hầu, và Ngạc Hầu làm tam công. Cửu Hầu có người con gái đẹp, đưa vào cung hầu vua, nhưng nàng không thích dâm lạc, khiến vua tức giận giết chết và làm mắm Cửu Hầu. Ngạc Hầu can ngăn cũng bị giết, rồi bị xé xác làm thịt khô.
Tây Bá Xương nghe chuyện liền thở dài thương xót. Hầu bá Sùng Hổ mật báo cho Trụ Vương, khiến ông tức giận giam Tây Bá ở Dữu Lý. Các cận thần của Tây Bá như Hoằng Yểu… dâng mỹ nữ, báu vật và ngựa tốt để dâng Trụ Vương, khiến ông tha cho Tây Bá. Tây Bá sau đó dâng đất Lạc Tây để xin bỏ hình phạt thiêu sống, Trụ Vương đồng ý, ban cho cung tên, rìu búa để cho quyền chinh phạt, phong làm Tây Bá. Nhưng lại dùng Phí Trọng làm tể tướng. Phí Trọng giỏi xu nịnh, tham lợi, khiến dân chúng xa lánh. Lại trọng dụng Ác Lai, kẻ chuyên gièm pha, khiến chư hầu càng thêm rời bỏ.
Tây Bá trở về, âm thầm tu đức hành thiện, nhiều chư hầu phản Trụ theo về với ông. Tây Bá ngày càng lớn mạnh, Trụ Vương từ đó dần mất thế lực. Vương tử Tỉ Can dâng lời can gián, nhưng không được nghe theo. Trụ Vương còn truất phế Thương Dung, người được dân kính trọng.
Sau này Tây Bá đánh nước Cơ, diệt nước đó, đại thần của Trụ là Tổ Ất nghe tin thì trách cứ nhà Chu, lo lắng chạy đến bẩm với Trụ rằng:
“Trời đã dứt mệnh nhà Ân, rút cả mai rùa thần mà chẳng còn linh nghiệm, người đời không dám đoán cát hung. Không phải tổ tiên không che chở hậu duệ, mà là nhà vua dâm ác, tự đoạn tuyệt mình. Trời vì vậy bỏ nhà Ân, dân không được yên ổn, không ai hiểu thiên lý, không theo đạo cũ. Dân chúng đều muốn mất, kêu rằng: ‘Sao Trời không giáng sấm? Sao đại mệnh chưa đến?’ Vậy nay bệ hạ tính sao?”
Trụ Vương nói: “Ta sinh ra chẳng phải đã mang mệnh Trời sao?”
Tổ Ất quay về, than rằng: “Trụ không thể khuyên được nữa rồi.”
Sau khi Tây Bá qua đời, con là Chu Vũ Vương đem quân đông chinh, đến Mạnh Tân. Lúc đó tám trăm chư hầu đã phản Ân theo Chu, ai cũng nói: “Trụ đáng đánh rồi.” Nhưng Vũ Vương nói: “Các khanh chưa thấy mệnh Trời.” Rồi rút quân về.
Trụ Vương càng ngày càng truỵ lạc. Vi Tử nhiều lần can gián nhưng không được nghe, bèn cùng đại tư tế và tiểu tư tế bàn nhau rồi bỏ đi. Tỉ Can nói: “Làm bề tôi không thể không lấy chết can vua.” Rồi dốc sức khuyên ngăn. Trụ Vương nổi giận: “Ta nghe nói thánh nhân có bảy lỗ trên tim.” Rồi mổ bụng Tỉ Can để xem.
Cơ Tử sợ hãi, giả điên làm nô lệ, Trụ Vương lại giam luôn ông. Đại tư tế và tiểu tư tế bèn mang theo nhạc cụ tế lễ chạy sang Chu.
Chu Vũ Vương bèn dẫn quân chư hầu đánh Trụ. Trụ cũng đem binh ra nghênh chiến ở Mục Dã. Đến ngày Giáp Tý, quân Trụ đại bại. Trụ chạy về Lộc Đài, mặc áo ngọc, tự thiêu mà chết. Vũ Vương chém đầu Trụ, treo lên cờ trắng, giết luôn Đát Kỷ, giải thoát cho Cơ Tử, dựng mộ cho Tỉ Can, đặt cổng cho Thương Dung.
Vũ Vương phong con của Trụ là Vũ Canh và Lộc Phụ để tiếp tục tế tự tổ tiên nhà Ân, truyền cho họ tiếp tục thực hành chính sự của Bàn Canh. Dân Ân vui mừng. Vũ Vương lên ngôi thiên tử. Từ đời sau, không còn gọi là “đế” nữa, mà chỉ gọi là “vương”. Hậu duệ nhà Ân được phong làm chư hầu, lệ thuộc nhà Chu.
Sau khi Vũ Vương mất, Vũ Canh cùng Quản Thúc và Thái Thúc làm loạn. Thành Vương sai Chu Công diệt họ, rồi lập Vi Tử làm chư hầu ở đất Tống để nối dõi nhà Ân.
Thái sử công nói: “Ta lần theo các bài tán tụng để ghi lại sự tích của Khế, từ vua Thành Thang trở về sau, thu nhặt từ kinh Thư và Kinh Thi. Khế là người họ Tử, hậu duệ được phân phong làm chư hầu, rồi lấy tên nước làm họ. Có họ Ân, họ Lai, họ Tống, họ Không Đồng, họ Trĩ, họ Bắc Ân, họ Mục Di. Khổng Tử nói: ‘Xe ngựa của người Ân có phong thái tốt, màu sắc yêu thích là màu trắng.’”
Chu Bản Kỷ
Chu Hậu Tắc, tên là Khí, mẹ là người họ Hữu Thai, tên Khương Nguyên, nguyên phi của Đế Khốc. Một hôm Khương Nguyên ra đồng, thấy dấu chân khổng lồ, trong lòng mừng lạ, bèn giẫm thử. Vừa giẫm, thân thể động, như có thai. Đủ tháng sinh con, cho là điềm chẳng lành, đem bỏ trong ngõ hẹp, trâu ngựa qua đều tránh không giẫm. Lại đem bỏ trong rừng, gặp khi nhiều người qua đó, lại dời đi. Đặt đứa trẻ trên băng giữa khe, chim bay đến lấy cánh ấp che. Khương Nguyên cho là có linh dị, bèn đem về nuôi. Vì ban đầu định bỏ, nên đặt tên là Khí (bỏ đi).
Khí khi còn nhỏ, chí khí lớn lao. Lúc chơi đùa, ưa trồng gai và đậu, cây cối tốt tươi. Đến lúc trưởng thành, chuyên chú nghề nông, biết chọn đất mà gieo trồng, dân chúng đều theo pháp của ông. Đế Nghiêu nghe tiếng, phong làm Nông sư, thiên hạ nhờ vậy mà được lợi, công lao hiển hách. Đế Thuấn nói: “Khí, bách tính đói khát, sau nhờ ngươi gieo trồng đúng tiết.” Bèn phong đất ở Thai, gọi là Hậu Tắc, ban họ Cơ. Hậu Tắc hưng khởi vào thời Đế Nghiêu, Đế Thuấn, nhà Hạ, đều là bậc hiền đức.
Hậu Tắc mất, con là Bất Nhuế nối ngôi. Cuối đời Bất Nhuế, nhà Hạ suy đồi, bỏ việc nông tang, Bất Nhuế vì mất chức, phải chạy sang sống với Nhung Địch. Bất Nhuế mất, con là Cúc nối ngôi. Cúc mất, con là Công Lưu nối. Tuy ở giữa Nhung Địch, Công Lưu vẫn tiếp tục sự nghiệp Hậu Tắc, chuyên cần nông nghiệp, chọn đất mà canh tác. Từ sông Sất và sông Tư, ông khai thác gỗ, tích trữ lương thực, người đi đường có chỗ nương, người ở lại có cái ăn, dân nhờ đó mà hưởng phúc. Trăm họ cảm mến, nhiều người đến ở. Nhà Chu từ đây bắt đầu hưng khởi. Thi nhân thời ấy xưng tụng đức của ông. Công Lưu mất, con là Khánh Tiết nối, lập quốc tại Bân.
Khánh Tiết mất, con là Hoàng Phổ nối. Hoàng Phổ mất, con là Sai Phất nối. Sai Phất mất, con là Hủy Du nối. Hủy Du mất, con là Công Phi nối. Công Phi mất, con là Cao Ngữ nối. Cao Ngữ mất, con là Á Ngữ nối. Á Ngữ mất, con là Công Thúc Tổ Loại nối. Công Thúc Tổ Loại mất, con là Cổ Công Đản Phụ nối.
Cổ Công khôi phục đạo nghiệp của Hậu Tắc và Công Lưu, tích đức hành nghĩa, được lòng người. Khi bị Nhung Địch xâm lấn, đòi của cải, ông cho. Chúng lại đến, đòi đất và dân. Dân chúng tức giận, muốn kháng chiến. Cổ Công nói: “Dân lập vua là để mưu lợi. Nay Nhung Địch muốn đất và dân, dân ở với ta hay với họ cũng như nhau. Nếu vì ta mà dân phải giết chóc, khiến cha con chết chóc, ta không nỡ.” Bèn đem tộc thuộc rời Bân, vượt sông Sất và Tư, băng núi Lương, đến ở dưới chân núi Kỳ. Dân Bân bấy giờ cả nước nâng già dắt trẻ, cùng về Kỳ với Cổ Công. Các nước lân cận nghe đức của ông, nhiều người theo về. Cổ Công bèn bỏ tục Nhung Địch, xây dựng thành quách, nhà cửa, chia xóm lập làng. Đặt ngũ quan, lập chức sự. Dân ca ngợi, xưng tụng công đức của ông.
Cổ Công có con trưởng là Thái Bá, thứ là Vu Trọng. Vợ là Thái Khương sinh con út là Cơ Lịch, cưới Thái Nhậm, đều là bậc hiền phụ. Sinh ra Cơ Xương, có điềm lành. Cổ Công nói: “Dòng ta sau này ắt có kẻ hưng thịnh, hẳn là Xương chăng?” Thái Bá và Vu Trọng biết cha muốn lập Cơ Lịch để truyền cho Cơ Xương, bèn hai người bỏ đi Nam Man, xăm mình cắt tóc, nhường ngôi cho em.
Cổ Công mất, Cơ Lịch nối, gọi là Công Cơ. Công Cơ giữ vững đạo xưa của cha, chuyên hành nhân nghĩa, chư hầu thuận phục.
Công Cơ mất, con là Cơ Xương nối, tức Tây Bá. Tây Bá hiệu là Văn Vương, nối đạo Hậu Tắc và Công Lưu, theo pháp Cổ Công và Công Cơ, nhân hậu, kính già, yêu trẻ, lễ đãi hiền sĩ, giữa trưa không kịp ăn để đợi người tài. Kẻ sĩ vì vậy mà theo về đông đảo. Bá Di, Thúc Tề ở Cô Trúc nghe danh dưỡng lão của Tây Bá, bàn nhau cùng đến. Thái Điên, Hoằng Yểu, Tán Nghi Sinh, Dục Tử, Tân Giáp cùng các đại phu đều đến quy thuận.
Sùng Hầu Hổ gièm Tây Bá với Trụ vương rằng: “Tây Bá tích đức, chư hầu đều hướng về ông, e không lợi cho vua.” Trụ bèn giam Tây Bá ở Dữu Lý. Hoằng Yểu và bọn lo sợ, bèn dâng mỹ nữ họ Hữu Thân, ngựa quý Ly Nhung, xe cửu tứ nước Hữu Hùng, cùng dị vật, thông qua sủng thần Phí Trọng dâng Trụ. Trụ rất mừng, nói: “Chỉ một thứ cũng đủ tha Tây Bá, huống chi nhiều vật thế này!” Bèn tha Tây Bá, ban cung tên rìu búa, cho phép chinh phạt. Nói: “Kẻ gièm Tây Bá là Sùng Hầu Hổ.” Tây Bá dâng đất phía tây sông Lạc, xin bỏ hình bào cách, Trụ chấp thuận.
Tây Bá âm thầm thi hành nhân chính, chư hầu đến nhờ xử kiện. Người nước Vu và Duệ có việc kiện, không phân giải được, đến Chu. Vào đất Chu, thấy người cày cũng nhường ranh ruộng, dân phong đều nhún nhường. Người Vu – Duệ chưa gặp Tây Bá đã hổ thẹn, bảo nhau: “Việc ta tranh chấp, dân Chu lấy làm nhục, đến đây chỉ tự chuốc xấu hổ.” Bèn cùng nhau bỏ kiện mà về. Chư hầu nghe thế, đều nói: “Tây Bá quả là bậc được mệnh Trời.”
Năm sau, phạt Khuyển Nhung. Năm kế, phạt Mật Tu. Năm nữa, phá nước Kỳ. Tổ Y nước Ân nghe, lấy làm lo, tâu với Trụ. Trụ nói: “Không phải Trời có mệnh sao? Hắn có thể làm gì?” Năm sau, phạt Vu. Năm nữa, đánh Sùng Hầu Hổ, dời đô từ Kỳ đến Phong. Năm sau, Tây Bá mất. Thái tử Phát nối, tức Vũ Vương.
Tây Bá trị quốc năm mươi năm. Khi bị giam ở Dữu Lý, cải biến Bát quái thành sáu mươi tư quái. Thi nhân ca ngợi Tây Bá, năm được thiên mệnh xưng vương, xử kiện Vu – Duệ. Mười năm sau thì mất, truy tôn là Văn Vương. Ông cải định pháp độ, chế định lịch pháp. Truy tôn Cổ Công là Thái Vương, Công Cơ là Vương Kế, bởi điềm mệnh vương bắt đầu từ Thái Vương vậy.
Vũ Vương lên ngôi, Thái Công Vọng làm Thầy, Chu Công Đán làm Phò, Triệu Công, Tất Công cùng các đại thần phò tá hai bên, kế tục sự nghiệp Văn Vương.
Năm thứ chín, Vũ Vương tế ở đất Tất. Đông chinh duyệt binh, đến bến Minh. Dựng linh vị Văn Vương, đặt giữa quân trung, dùng xe chở. Vũ Vương xưng là Thái tử Phát, nói rằng phụng mệnh Văn Vương mà phạt, không dám chuyên quyền. Bèn cáo với Tư Mã, Tư Đồ, Tư Không cùng các quan lệnh:
“Phải kính cẩn! Ta ngu dốt, nhờ tổ tiên có đức, được tôi hiền giúp, nay chịu ơn cũ, định công thưởng phạt.”
Rồi khởi binh. Thầy Thượng Phụ (Thái Công) hô rằng:
“Tập hợp bá tánh! Lên thuyền xuống đò! Kẻ đến sau, chém!”
Vũ Vương vượt sông. Giữa dòng, cá trắng nhảy vào thuyền ngự, Vũ Vương cúi lấy tế cáo. Vừa sang sông, lửa từ trời giáng xuống, cháy rực đến núi Vương Ốc, hóa thành con quạ, màu đỏ, kêu vang.
Bấy giờ, các chư hầu không hẹn mà tụ họp tại Minh, đến tám trăm nước. Ai nấy đều nói:
“Trụ có thể phạt rồi!”
Vũ Vương nói:
“Các ngươi chưa biết mệnh trời, chưa thể đánh.”
Bèn lui binh trở về.
Hai năm sau, nghe Trụ càng ngày càng hôn ám tàn ngược, giết Vương tử Tỉ Can, giam Khương Tử Nha. Thái Sư Tì, Thiếu Sư Cường ôm nhạc khí mà chạy sang Chu.
Vũ Vương bèn cáo khắp chư hầu rằng:
“Ân tội chất chồng, không thể không phạt.”
Bèn theo ý Văn Vương, đem ba trăm cỗ chiến xa, ba ngàn quân hổ bôn, bốn vạn năm ngàn giáp sĩ, đông chinh phạt Trụ.
Năm thứ mười một, tháng chạp, ngày Mậu Ngọ, quân Chu qua sông Minh, chư hầu đều đến. Hô rằng:
“Chuyên cần, chớ biếng lười!”
Vũ Vương bèn làm bài Thái Thệ cáo với bá tánh:
“Vua Ân Trụ nghe lời đàn bà, tự cắt đứt mệnh trời, hủy bỏ ba chính, lìa bỏ tổ tiên, xa lánh thân thuộc, bỏ nhạc cổ của tổ, tạo âm thanh dâm loạn, say mê đàn bà. Nay ta Phát chỉ phụng hành thiên phạt. Cố gắng, các ngươi! Một lần thôi, không hai, không ba!”
Tháng hai, ngày Giáp Tý, trời chưa sáng, Vũ Vương đến đồng Mục Dã, ngoại thành Thương, rồi thệ sư. Tay trái cầm búa vàng, tay phải cầm cờ trắng, chỉ huy. Hô rằng:
“Người phương Tây đến đây đông đủ!”
Vũ Vương lại nói:
“Than ôi! Ta có quốc chủ, có Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không, có Á Lữ, Sư Sĩ, trưởng ngàn, trưởng trăm, cùng người Dung, Thục, Khương, Mao, Vi, Lô, Bành, Phác – ai nấy nắm vũ khí, cầm giáo, dựng mâu – nghe ta thệ!”
Vua nói:
“Xưa có lời rằng: ‘Gà mái gáy sáng, ắt nhà suy bại.’ Nay vua Trụ chỉ nghe đàn bà, bỏ lễ tổ, không tế tổ tiên, mê muội quốc gia, bỏ rơi thân tộc, dùng kẻ trốn tội bốn phương làm quan, khiến dân lầm than, khiến nước Thương đảo điên. Nay ta Phát chỉ hành thiên phạt. Việc hôm nay, không quá sáu bước bảy bước, liền thôi, các ngươi cố lên! Không quá bốn phạt, năm phạt, sáu phạt, bảy phạt, rồi thôi, gắng lên các ngươi! Phải dũng mãnh như hổ, như gấu, như sói, như sư tử, đánh vào ngoài thành Thương, không gặp địch thì cứ xông, đánh xong về Tây, cố lên các ngươi! Ai không cố, thân sẽ bị phạt.”
Thệ xong, chư hầu tụ binh, bốn ngàn cỗ chiến xa, bày trận tại Mục Dã.
Trụ nghe Vũ Vương đến, cũng phát bảy mươi vạn binh chặn đánh.
Vũ Vương sai Thái Công cùng trăm người dẫn đại quân xung trận. Quân Trụ tuy đông, nhưng lòng chẳng muốn chiến, đều mong Vũ Vương sớm vào. Binh Trụ đều lật vũ khí mà đánh, mở đường cho quân Chu. Vũ Vương thúc ngựa tiến, quân Trụ tan vỡ, bỏ Trụ mà chạy.
Trụ chạy, trở vào, lên Lộc Đài, mặc áo ngọc quý, tự thiêu mà chết.
Vũ Vương cầm đại kỳ trắng ra hiệu cho chư hầu, chư hầu đều bái lạy. Vũ Vương cúi chào, các nước đều theo. Vũ Vương vào thành Thương, dân chúng đón ở ngoài thành.
Vũ Vương sai các quan tuyên cáo:
“Trời ban điều lành!”
Dân Thương đều hai lạy, cúi đầu sát đất. Vũ Vương cũng đáp lễ.
Rồi đến nơi Trụ thiêu thân. Vũ Vương tự giương cung, bắn ba phát, rồi xuống xe, dùng kiếm nhẹ đâm, lấy búa vàng chặt đầu Trụ, treo lên cờ trắng lớn.
Rồi đến chỗ hai ái cơ của Trụ, hai người đã thắt cổ chết. Vũ Vương cũng bắn ba phát, đâm bằng kiếm, dùng búa đen chặt đầu, treo lên cờ trắng nhỏ.
Rồi lui quân.
Hôm sau, mở đường, tu sửa miếu xã và cung điện Trụ. Đến kỳ lễ, trăm người giương cờ lớn đi trước. Em Vũ Vương là Thúc Chấn Đạc dẫn xa giá, Chu Công cầm búa lớn, Tất Công cầm búa nhỏ, đứng hai bên Vũ Vương. Tán Nghi Sinh, Thái Điên, Hoằng Yểu cầm kiếm hộ giá.
Vào thành, Vũ Vương đứng phía nam miếu xã, bên trái đại quân, tả hữu đều theo.
Mao Thúc Trịnh dâng nước sáng, Vệ Khang Thúc trải vải bạch bố, Triệu Công Thích lo việc tế phẩm, Thái Công dắt vật tế.
Doãn Yển đọc lời chúc:
“Hậu duệ cuối của nhà Ân là Cơ Trụ, đã diệt đức sáng của tiên vương, khinh mạn thần linh, không tế tự, làm dân Thương lầm than, tội rõ ràng đến trời.”
Vũ Vương hai lần lạy, cúi đầu sát đất, nói:
“Nhận mệnh lớn mới, thay Ân, nhận thiên mệnh sáng.”
Lại lạy hai lần nữa, rồi lui ra.
Vũ Vương lâm bệnh. Thiên hạ chưa yên, chư công lấy làm lo. Bèn bói cầu, Chu Công tắm gội trai giới, tự nguyện làm vật thế mạng, mong thay cho Vũ Vương. Quả nhiên Vũ Vương thuyên giảm. Sau đó băng. Thái tử Tụng lên nối ngôi, tức là Thành Vương.
Thành Vương tuổi nhỏ, khi ấy nhà Chu mới định thiên hạ. Chu Công sợ chư hầu làm phản, bèn quyền nhiếp chính sự. Quản Thúc và Thái Thúc, các em của Vũ Vương, nghi ngờ Chu Công, cùng Vũ Canh làm loạn, phản Chu. Chu Công phụng mệnh Thành Vương, phạt Vũ Canh, Quản Thúc, đày Thái Thúc. Dùng Vi Tử Khải kế tự họ Ân, lập nước Tống. Thu nhận dân Ân còn lại, phong em út của Vũ Vương là Vệ Khang Thúc.
Đường Thúc nước Tấn dâng giống lúa tốt, Thành Vương đem trả Chu Công nơi quân doanh. Chu Công nhận lúa ở Đông thổ, vâng mệnh thiên tử.
Ban đầu Quản, Thái làm phản, Chu Công đánh dẹp, mất ba năm mới định. Do đó làm các thiên văn như: Đại cáo, Vi tử chi mệnh, Quy hòa, Gia hòa, Khang cáo, Tử tài — việc đều chép trong thiên Chu Công.
Chu Công nhiếp chính bảy năm, Thành Vương trưởng thành, Chu Công hoàn chính, cúi lạy nhận chức thần hạ.
Thành Vương ở đất Phong, sai Triệu Công phục xây Lạc ấp theo chí Vũ Vương. Chu Công lại bói, xét đất, rồi dựng thành, đặt Cửu đỉnh ở đó. Nói rằng: “Đây là trung tâm thiên hạ, bốn phương tiến cống đều cân bằng về đường sá.” Soạn Triệu cáo, Lạc cáo.
Khi dời dân Ân, Chu Công nhân mệnh vua tuyên cáo, soạn Đa sĩ, Vô dật. Triệu Công làm bảo phụ, Chu Công làm sư, đông chinh Hoài Di, phá nước Yểm, dời vua nước ấy sang Bạc Bính.
Thành Vương từ Yểm về, ở tông Chu, soạn Đa phương. Trừ bỏ mệnh Ân, đánh Hoài Di, trở về Phong, lập Chu quan. Chấn chỉnh lễ nhạc, cải định pháp độ, dân yên, ca tụng vang khắp.
Thành Vương sau khi phạt Đông Di, Tức Thận đến chầu, vua ban thưởng cho Vinh Bá, soạn Tức Thận chi mệnh.
Thành Vương sắp băng, sợ Thái tử Chiêu không gánh nổi việc nước, bèn lệnh Triệu Công, Tất Công dẫn chư hầu phò tá lập Thái tử. Thành Vương băng, hai công dẫn chư hầu, đưa Chiêu vào miếu tiên vương, nhắc lại Văn, Vũ gian khổ dựng nghiệp, phải tiết chế, ít dục vọng, lấy thành tín trị dân. Soạn Cố mệnh.
Thái tử Chiêu lên ngôi, tức Khang Vương. Khang Vương lên ngôi, cáo khắp chư hầu, tuyên thuyết sự nghiệp Văn, Vũ để nhắc nhở, soạn Khang cáo.
Do đó đời Thành – Khang, thiên hạ thái bình, hình phạt hơn bốn mươi năm không dùng đến. Khang Vương lệnh soạn Bút mệnh, ban cho Tất Công phân cư ngoại thành Thành Chu.
Khang Vương mất, con là Chiêu Vương (tên Hạ) nối ngôi. Thời Chiêu Vương, vương đạo dần suy. Chiêu Vương nam tuần không về, mất ở bờ sông Giang. Việc mất không báo, là để giấu vậy.
Dựng con Chiêu Vương là Mãn, tức Mục Vương. Lên ngôi khi tuổi đã năm mươi. Vương đạo suy vi. Mục Vương lo đạo Văn Vũ bị thất truyền, bèn sai Bá Tạng nhắc nhở Thái Phó lo việc nước, soạn Tạng mệnh.
Sau đó, yên định quốc chính.
Mục Vương muốn chinh Khuyển Nhung, Tế Công Mưu Phụ can rằng:
“Không thể! Tiên vương lấy đức soi sáng, không khoe vũ lực. Binh giấu mà đúng thời mới dùng, thì oai; khoe ra là chơi, chơi thì vô uy. Cho nên Chu Văn Công có thơ rằng: ‘Để gươm giáo vào bao, cung nỏ treo lên, ta cầu đức tốt, thực hiện đúng mùa Hạ, Trời ắt ban cho.’
Tiên vương trị dân, trọng đức hậu tính, làm giàu dân dụng, khai rõ lợi hại, lấy văn giáo hóa, khiến dân chăm làm, tránh họa, kính đức, sợ uy, nên giữ nghiệp lâu dài.
Xưa tiên vương ta đời đời nối đức, không hổ với người trước. Đến Văn Vương, Vũ Vương, càng sáng thêm ân hòa, thờ thần bảo dân, không gì không vui.
Trụ vương nhà Ân ác tột, dân không chịu nổi, cùng theo Vũ Vương phạt Mục Dã.
Cho nên tiên vương chẳng cốt đánh, mà cứu khổ trừ họa. Tiên vương chia thiên hạ: trong là Điền phục, ngoài là Hầu phục, rồi Tân phục, Di man yêu phục, Nhung Địch hoang phục.
Điền phục thì tế, Hầu phục thì cúng, Tân phục thì hưởng, Yêu phục thì cống, Hoang phục thì triều.
Tế hàng ngày, cúng hàng tháng, hưởng theo tiết, cống mỗi năm, triều đúng kỳ.
Có chỗ không tế, thì tu đức; không cúng, thì tu lời; không hưởng, thì tu văn; không cống, thì tu danh; không triều, thì tu đức.
Làm đủ mà không đến, thì tu hình. Có hình mà không tế, thì phạt; không cúng, thì đánh; không hưởng, thì chinh; không cống, thì trách; không triều, thì răn.
Cho nên có hình phạt, có binh phạt, có chinh thảo, có mệnh uy, có lời cáo. Truyền lệnh rồi, ai không đến, thì càng tu đức, không bắt dân nơi xa chịu mệt. Gần thì nghe, xa thì phục.
Từ sau Đại Tất, Bá Sĩ mất, Khuyển Nhung đến cống đều đúng. Nay thiên tử bảo ‘vì không hưởng nên phải chinh, lại muốn thị binh’, e là bỏ mất lời dạy của tiên vương, khiến vương thất nghiêng đổ!
Tôi nghe Khuyển Nhung giữ lễ, theo đức xưa, kiên cố bền bỉ, e rằng có thể chống lại ta.”
Mục Vương vẫn đi. Bắt được bốn sói trắng, bốn hươu trắng, mang về. Từ đó các hoang phục không đến nữa.
Ý Vương băng, em Cung Vương là Tỵ Phương lên ngôi, tức Hiếu Vương. Hiếu Vương băng, chư hầu lại lập con trưởng của Ý Vương là Tạ, tức Di Vương.
Di Vương băng, con là Lệ Vương Hồ nối ngôi. Lệ Vương trị vì ba mươi năm, ưa chuộng lợi lộc, thân cận Vinh Di Công. Đại phu Nhuế Lương Phu can rằng:
“Vương thất sắp suy chăng? Vinh Công chỉ biết tư lợi, chẳng lo họa lớn. Lợi là gốc sinh muôn vật, là thứ Trời Đất nâng đỡ, nếu tư hữu, tai hại lắm thay! Trời Đất và muôn vật đều lấy từ đó, sao có thể giữ riêng? Kẻ oán sẽ nhiều, chẳng đề phòng họa lớn, thì vua làm sao bền lâu?
Người làm vương là để dẫn dắt lợi ích, phân phát khắp trên dưới, khiến thần, người, muôn vật đều được hưởng phần, vậy mà vẫn còn phải lo oán giận đến nơi. Cho nên Kinh Tụng nói: ‘Nghĩ về Văn Hậu Tắc, có thể sánh cùng Trời, lập dân sinh ta, ai chẳng được hưởng phần ấy.’
Kinh Đại Nhã nói: ‘Ban cho đầy đủ Chu.’ Đó là không giữ riêng lợi, biết sợ họa, nên mới nâng đỡ Chu đến ngày nay. Nay vua học thói giữ riêng lợi, sao có thể được?
Một kẻ thường dân mà giữ lợi riêng cũng bị gọi là trộm, huống chi vua mà làm thế, e không tránh khỏi tai vạ. Nếu dùng Vinh Công, nhà Chu tất diệt!”
Lệ Vương không nghe, cuối cùng phong Vinh Công làm khanh sĩ, giao việc chính trị.
Vua hành xử bạo ngược, xa hoa kiêu căng, dân trong nước đều chê trách. Triệu Công can rằng:
“Dân không chịu nổi nữa rồi.”
Vua giận, sai thầy bói nước Vệ giám sát kẻ nói xấu, ai bị cáo liền giết. Từ đó lời chê bai ít hẳn, chư hầu cũng không còn triều cống.
Năm thứ ba mươi tư, vua càng thêm nghiêm, không ai dám nói, đi đường nhìn nhau bằng mắt. Lệ Vương lấy làm vui, nói với Triệu Công:
“Trẫm đã dẹp được lời chê rồi, nay không ai dám nói cả.”
Triệu Công thưa:
“Ấy là bế miệng dân vậy.
Bịt miệng dân còn hơn chặn nước.
Nước bị ngăn mà vỡ, sẽ tổn hại nhiều; dân cũng thế.
Cho nên kẻ trị nước phải khơi dòng cho nước, mở lời cho dân.
Vì thế thiên tử nghe chính sự, để từ công khanh đến thứ sĩ dâng thơ, nhạc sĩ dâng khúc, sử quan dâng sử, thầy dạy can ngăn, người mù hát vịnh, thợ thuyền bàn luận, bách tính truyền tin, cận thần hết lòng, thân thích góp ý, sử quan giáo hóa, người già sửa trị — rồi vua mới cân nhắc mà thi hành.
Cho nên việc thi hành mà không trái lẽ.
Dân có miệng như đất có sông núi, của cải từ đó mà ra;
giống như có ruộng đồng màu mỡ, từ đó sinh ra áo cơm.
Lời nói dân công khai, cái tốt cái xấu đều từ đó phát sinh.
Làm điều thiện mà phòng họa, mới sinh được của cải, áo cơm.
Dân nghĩ trong lòng, nói ra bằng miệng, mới thành việc.
Nếu bịt miệng họ, thì sức họ làm được mấy?”
Lệ Vương không nghe. Từ đó cả nước không ai dám mở miệng. Ba năm sau, dân cùng nhau làm phản, tập kích Lệ Vương.
Lệ Vương chạy trốn đến đất Trĩ.
Thái tử của Lệ Vương là Tĩnh trốn ở nhà Triệu Công. Dân nghe tin, bèn vây nhà. Triệu Công nói:
“Xưa ta thường can vua, vua không nghe, đến nỗi có họa này. Nay nếu giết Thái tử, vua ắt oán ta. Kẻ làm tôi không nên kết thù, ôm hận, huống chi là vua?”
Bèn lấy con mình thay cho Thái tử, nhờ đó Thái tử trốn thoát.
Triệu Công và Chu Công cùng nắm chính sự, xưng là Cộng hòa. Cộng hòa mười bốn năm thì Lệ Vương chết tại đất Trĩ. Thái tử Tĩnh lớn lên ở nhà Triệu Công, hai vị đại thần cùng lập làm vua, tức Tuyên Vương.
Tuyên Vương lên ngôi, hai vị đại thần phò tá, sửa chính sự, theo pháp Văn, Vũ, Thành, Khang, chư hầu lại quy phục nhà Chu.
Năm thứ mười hai, Vũ Công nước Lỗ đến chầu.
Tuyên Vương không sửa sổ dân tại Thiên Mẫu, Quắc Văn Công can ngăn rằng không nên, vua không nghe.
Năm thứ ba mươi chín, giao chiến ở Thiên Mẫu, quân Chu thua trận trước bộ tộc Giang.
Tuyên Vương sau khi mất quân ở phương Nam, bèn kiểm dân ở Thái Nguyên. Trọng Sơn Phụ can rằng:
“Dân không thể kiểm kê như vậy.”
Vua không nghe, cuối cùng vẫn làm.
Năm thứ bốn mươi sáu, Tuyên Vương băng, con là U Vương Cung Thăng nối ngôi.
Năm thứ hai đời U Vương, ba con sông vùng Tây Chu đều động đất. Bá Dương Phụ nói:
“Nhà Chu sắp mất rồi.
Khí trời đất không đảo lộn trật tự. Nếu trật tự rối loạn, tức do dân gây loạn.
Dương bị chèn ép không thể thoát, âm bị lấn át không thể bốc, thì đất động.
Nay ba sông chấn động, là vì dương khí không thoát, đè nén âm.
Dương mất chỗ, âm lấp đầy, thì suối ắt tắc; suối tắc, nước cạn, nước cạn thì nước mất.
Xưa sông Y, sông Lạc cạn, nhà Hạ mất; sông Hoàng Hà cạn, nhà Thương mất.
Nay đức Chu như cuối Hạ, cuối Thương, sông suối cũng tắc, ắt sẽ cạn.
Nước dựa vào núi sông mà tồn tại, núi sụp, sông cạn, là điềm mất nước.
Sông cạn rồi, núi sẽ sụp. Nếu mất nước, không quá mười năm, theo số trời.
Trời đã bỏ thì không vượt quá kỳ hạn.”
Năm đó, ba sông đều cạn, núi Kỳ Sơn sụp.
Năm thứ ba, U Vương sủng ái Bao Tự. Bao Tự sinh con là Bá Phục, U Vương muốn phế thái tử. Mẹ của Thái tử là con gái Thân Hầu, làm hậu. Khi U Vương gặp Bao Tự, bèn yêu, muốn phế Thân hậu, truất ngôi thái tử Nghi Cữu, lập Bao Tự làm hậu, lập Bá Phục làm thái tử.
Thái sử Bá Dương đọc sử sách, nói:
“Chu sắp mất rồi.”
Xưa khi nhà Hạ suy, có hai con rồng dừng trong sân vua, nói: “Chúng ta là hai chúa đất Bao.”
Vua Hạ bói giết, hay giữ, hay thả — không điều gì tốt.
Bèn xin nước dãi rồng để lại, giấu đi, thì tốt.
Dâng lễ, thỉnh rồng, rồng bay đi, nước dãi còn, đựng vào hộp đem cất.
Nhà Hạ mất, truyền vật ấy sang Thương. Thương mất, lại truyền sang Chu.
Trải ba đời, không ai dám mở.
Đến cuối đời Lệ Vương, mở ra xem.
Nước dãi chảy khắp sân, không dọn được.
Lệ Vương sai đàn bà khỏa thân múa nhảy bên cạnh.
Nước dãi hóa thành rùa đen, chui vào hậu cung.
Có cung nữ chưa đến tuổi gặp phải, đến tuổi cài trâm thì mang thai, không chồng mà sinh con, sợ quá đem bỏ.
Đời Tuyên Vương, thiếu nữ có bài hát rằng:
“Áo cầm cung, mặc đồ Cơ, nhà Chu sắp mất.”
Tuyên Vương nghe, có vợ chồng bán món đồ ấy, vua bắt giết.
Vợ chồng chạy trốn, gặp đứa bé bị bỏ, là con gái do cung nữ sinh, thấy nó khóc đêm, thương mà đem nuôi, rồi trốn sang đất Bao.
Người đất Bao phạm tội, xin dâng cô gái ấy để chuộc.
Đó là Bao Tự.
Năm thứ ba đời U Vương, Bao Tự vào hậu cung được yêu quý, sinh Bá Phục, vua phế Thân hậu, phế Thái tử, lập Bao Tự làm hậu, lập Bá Phục làm thái tử.
Thái sử Bá Dương than:
“Họa đã thành, không còn cứu được!”
Bao Tự không thích cười. U Vương muốn nàng cười cho thiên hạ cùng thấy, nàng lại không cười.
Vua đặt lầu canh, trống lớn, khi có giặc thì đốt lửa báo.
Lần đó đốt lửa, chư hầu kéo đến cứu, thì không có giặc. Bao Tự cười lớn.
U Vương vui mừng, lại nhiều lần đốt lửa.
Về sau không ai tin, chư hầu cũng không đến nữa.
U Vương dùng Quắc Thạch Phụ làm khanh, giao quyền chính, dân đều oán.
Thạch Phụ là người nịnh, khéo tâng bốc, ham lợi, được vua trọng dụng.
Lại phế Thân hậu, bỏ thái tử. Thân Hầu nổi giận, cùng nước Tằng, Tây Di, Khuyển Nhung tấn công U Vương.
U Vương đốt lửa cầu viện, chẳng ai đến.
Bèn bị giết dưới chân Ly Sơn, Bao Tự bị bắt, Chu thất bị cướp sạch.
Chư hầu hội với Thân Hầu, lập con của Thân hậu là Thái tử Nghi Cữu, tức Bình Vương, để tiếp tục tế tự nhà Chu.
Bình Vương lên ngôi, dời đô về Lạc ấp, tránh nạn Nhung Địch.
Từ thời Bình Vương, nhà Chu suy yếu, chư hầu mạnh hiếp yếu.
Tề, Sở, Tần, Tấn bắt đầu hùng mạnh. Chính sự giao về tay các Phương bá.
Năm thứ 49, Lỗ Ẩn Công lên ngôi.
Năm thứ 51, Bình Vương băng. Thái tử Duệ Phụ mất sớm, lập cháu nội là Lâm, tức Hoàn Vương.
Năm thứ 3 đời Hoàn Vương, Trịnh Trang Công vào chầu, vua không tiếp đãi lễ độ.
Năm thứ 5, Trịnh oán giận, đổi ruộng Hứa Điền với Lỗ.
Hứa Điền vốn là ruộng săn của Thiên tử ở Thái Sơn.
Năm thứ 8, nước Lỗ giết Ẩn Công, lập Hoàn Công.
Năm thứ 13, Chu phạt Trịnh. Trịnh bắn trúng Hoàn Vương, vua bỏ chạy về.
Năm thứ 23, Hoàn Vương băng, con là Trang Vương Đà lên ngôi.
Năm thứ 4, Chu Công Hắc Kiên muốn giết vua, lập vương tử Khắc.
Tân Bá báo cho vua, Trang Vương giết Chu Công, vương tử Khắc chạy sang Yên.
Năm thứ 15, Trang Vương băng, con là Hi Vương Hồ Tề lên nối.
Năm thứ 3, Tề Hoàn Công bắt đầu xưng bá.
Năm thứ 5, Hi Vương băng, con là Huệ Vương Lãng lên ngôi.
Năm thứ 2, khi xưa Trang Vương sủng ái cơ Dao, sinh con là Tuy, được vua yêu.
Đến lúc Huệ Vương lên, cướp đất đại thần làm vườn săn.
Đại phu Biên Bá cùng bốn người nổi loạn, mưu gọi quân Yên, Vệ đến đánh vua.
Huệ Vương chạy sang Ôn, rồi đến ở đất Lạc của Trịnh.
Chúng lập vương tử Tuy làm vua, mở yến tiệc ca múa.
Trịnh và Quắc tức giận.
Năm thứ 4, Trịnh cùng Quắc đánh giết vua Tuy, rước Huệ Vương trở về.
Năm thứ 10, phong Tề Hoàn Công làm Bá.
Năm thứ 25, Huệ Vương băng, con là Tương Vương Trịnh lên ngôi.
Mẹ Tương Vương mất sớm, kế hậu là Huệ Hậu, sinh vương tử Thúc Đới, được vua sủng ái.
Tương Vương sợ, năm thứ 3, Thúc Đới cùng Nhung Địch mưu phản.
Vua muốn giết Đới, Đới chạy sang Tề.
Tề Hoàn Công sai Quản Trọng dẹp Nhung ở Chu, sai Tập Bằng dẹp Nhung ở Tấn.
Vua tiếp Quản Trọng lễ như thượng khanh.
Quản Trọng từ chối:
“Thần chỉ là kẻ hèn giữ chức, có tướng quốc và khanh khác cao hơn. Nay gặp lúc xuân thu, đến vâng mệnh, thần không dám nhận lễ lớn.”
Vua nói:
“Ngài là cậu ta, trẫm quý công lao, đừng trái lệnh trẫm.”
Quản Trọng nhận lễ hạ khanh rồi về.
Năm thứ 9, Tề Hoàn Công mất.
Năm thứ 12, Thúc Đới trở lại Chu.
Năm thứ 13, Trịnh đánh Hoạt.
Vua sai Du Tôn, Bá Phục sang Trịnh đòi Hoạt, Trịnh bắt giữ.
Trịnh Văn Công oán Huệ Vương không phong cho Lệ Công, lại oán Tương Vương đã chia đất Hoạt cho Vệ, nên bắt Bá Phục.
Vua giận, định dùng Nhung đánh Trịnh.
Phú Thần can:
“Từ khi ta dời đô phía Đông, dựa vào Tấn và Trịnh.
Loạn của vương tử Tuy, Trịnh giúp mới yên.
Nay vì chuyện nhỏ mà bỏ họ sao?”
Vua không nghe.
Năm thứ 15, dẫn quân Nhung đánh Trịnh.
Vua quý người Nhung, định lập con gái Nhung làm hậu.
Phú Thần can:
“Từ đời Bình, Hoàn, Trang, Huệ đều nhờ Trịnh giúp. Nay vua bỏ thân thích, theo Nhung, sao được?”
Vua không nghe.
Năm thứ 16, đuổi hậu Nhung, Nhung kéo đến báo thù, giết Đàm Bá.
Phú Thần nói:
“Ta đã nhiều lần can vua không được. Nếu nay không chết theo, vua ắt giận ta.”
Rồi cùng quyến thuộc tự sát.
Ban đầu Huệ Hậu muốn lập vương tử Đới, nên theo phe Nhung.
Nhung vào Chu.
Tương Vương bỏ chạy sang Trịnh.
Trịnh lập vua ở đất Phụ, vương tử Đới lên ngôi, đem hậu Nhung về sống ở Ôn.
Năm thứ 17, Tương Vương cầu cứu Tấn, Tấn Văn Công đón vua về, giết Thúc Đới.
Tương Vương ban cho Tấn Văn Công khuê, sái, cung tên, phong làm Bá, cho đất Hà Nội.
Năm thứ 20, Tấn Văn Công triệu Tương Vương, hội ở Hà Dương, Tiễn Thổ, chư hầu đều về chầu.
Sử chép: “Thiên tử săn ở Hà Dương.”
Năm thứ 24, Tấn Văn Công mất.
Năm thứ 31, Tần Mục Công mất.
Năm thứ 32, Tương Vương mất, con là Khánh Vương Nhâm Thần lên ngôi.
Khánh Vương trị vì sáu năm, mất. Con là Cuông Vương Ban nối ngôi.
Cuông Vương trị sáu năm, mất. Em là Dư lên ngôi, tức Định Vương.
Năm đầu Định Vương, Sở Trang Vương phạt tộc Nhung Lục Hồn, đến Lạc, hỏi về Cửu Đỉnh.
Vua sai Vương Tôn Mãn đáp lời khéo léo, Sở lui binh.
Năm thứ 10, Sở vây Trịnh, Trịnh Bá hàng rồi lại thoát.
Năm thứ 16, Sở Trang Vương mất.
Năm thứ 21, Định Vương mất, con là Giản Vương Di nối ngôi.
Năm thứ 13, nước Tấn giết vua mình là Lệ Công, rước con là Chu về Chu lập làm Đạo Công.
Năm thứ 14, Giản Vương mất, con là Linh Vương Tiết Tâm lên ngôi.
Linh Vương trị hai mươi bốn năm, nước Tề: Thôi Trữ giết vua Trang Công.
Năm thứ 27, Linh Vương mất, con là Cảnh Vương Quý lên ngôi.
Năm thứ 18, thái tử Thánh chết sớm.
Năm thứ 20, vua yêu con là Triều, muốn lập.
Gặp lúc vua mất, đảng phái lập con trưởng là Mạnh làm vua.
Tử Triều giết Mạnh. Mạnh gọi là Đạo Vương.
Tấn đánh Tử Triều, lập Cái, tức Kính Vương.
Năm đầu Kính Vương, Tấn vào Chu, Tử Triều tự lập, Kính Vương không được vào, ở Trạch.
Năm thứ 4, Tấn đem chư hầu đưa Kính Vương về Chu, Tử Triều làm thần, chư hầu xây thành Chu.
Năm thứ 16, bè đảng Tử Triều lại làm loạn, Kính Vương chạy sang Tấn.
Năm thứ 17, Tấn Định Công rước Kính Vương về Chu.
Năm thứ 39, nước Tề: Điền Thường giết vua Giản Công.
Năm thứ 41, Sở diệt nước Trần.
Khổng Tử mất.
Năm thứ 42, Kính Vương mất, con là Nguyên Vương Nhân lên ngôi.
Nguyên Vương trị tám năm, mất. Con là Định Vương Giới nối ngôi.
Năm thứ 16 đời Định Vương, ba họ Tấn diệt Trí Bá, chia đất.
Năm thứ 28, Định Vương mất, con trưởng là Khứ Tật lên ngôi, tức Ai Vương.
Ai Vương trị ba tháng, em là Thúc giết Ai Vương, tự lập, tức Tư Vương.
Tư Vương trị năm tháng, em út là Ngôi giết Tư Vương, tự lập, tức Khảo Vương.
Cả ba vua đều là con Định Vương.
Năm thứ 15, Khảo Vương mất, con là Uy Liệt Vương Ngọ nối ngôi.
Khảo Vương phong em ở Hà Nam, tức là Hoàn Công, để tiếp tục chức Chu Công.
Hoàn Công mất, con là Uy Công nối. Uy Công mất, con là Huệ Công nối.
Lại phong con út ở Củng, để thờ tổ, gọi là Đông Chu Huệ Công.
Năm thứ 23 đời Uy Liệt Vương, Cửu Đỉnh chấn động. Phong Hàn, Ngụy, Triệu làm chư hầu.
Năm thứ 24, Uy Liệt Vương mất, con là An Vương Kiêu lên ngôi.
Năm đó, vua Sở Thanh Vương bị thích khách giết.
An Vương trị 26 năm, mất. Con là Liệt Vương Hỉ nối.
Năm thứ 2, thái sử Chu là Đam gặp Tần Hiến Công, nói:
“Xưa Chu với nước Tần hợp rồi chia, chia năm trăm năm lại hợp, hợp mười bảy năm thì có người xưng bá ra đời.”
Năm thứ 10, Liệt Vương mất, em là Biên nối ngôi, tức Hiển Vương.
Năm thứ 5, chúc mừng Tần Hiến Công, Hiến Công xưng Bá.
Năm thứ 9, ban đất Văn Vũ cho Tần Hiếu Công.
Năm thứ 25, Tần hội chư hầu ở Chu.
Năm thứ 26, Chu phong Hiếu Công làm Bá.
Năm thứ 33, mừng Tần Huệ Vương.
Năm thứ 35, ban đất Văn Vũ cho Tần Huệ Vương.
Năm thứ 44, Tần Huệ Vương xưng vương, rồi các chư hầu cũng xưng vương.
Năm thứ 48, Hiển Vương mất, con là Thận Tĩnh Vương Định nối ngôi.
Tĩnh Vương trị sáu năm, mất, con là Nạn Vương Diên lên ngôi.
Thời Nạn Vương, Đông Chu và Tây Chu chia trị.
Nạn Vương dời đô sang Tây Chu.
Võ Công nước Tây Chu có Thái tử mất sớm, còn năm người con thứ, không ai là đích tử để lập.
Tư Mã Tiễn nói với vua Sở:
“Chi bằng ban đất cho công tử Cữu, lập làm Thái tử.”
Tả Thành nói:
“Không thể. Nếu Chu không nghe, tức là ông tự thấy mình lúng túng, lại xa lánh Chu vậy.
Chi bằng hỏi Chu quân thật muốn lập ai, ngầm bảo Tiễn, Tiễn sẽ thay mặt xin Sở ban đất cho người ấy.”
Quả nhiên lập công tử Cữu làm Thái tử.
Năm thứ tám, Tần đánh Nghi Dương, Sở cứu.
Nhưng Sở oán Chu đã thân Tần, định phạt Chu.
Tô Đại vì Chu thuyết vua Sở rằng:
“Sao lại cho rằng Chu là họa của Tần? Kẻ bảo Chu thân Tần hơn Sở, chính là muốn Chu quy phục Tần, nên mới gọi là ‘Chu Tần’. Chu biết không thể thoát, ắt sẽ nghiêng về Tần. Ấy là Tần đoạt lấy tinh túy của Chu vậy.
Nếu vì đại kế của vương, thì nên để Chu bề ngoài hòa với Tần, lại nói tốt về Sở, khiến Tần nghi. Chu nếu tuyệt với Tần, tất sẽ quay sang Dĩnh (đô Sở).”
Tần mượn đường qua giữa hai Chu, muốn đánh Hàn.
Chu sợ cho thì Hàn oán, không cho thì Tần giận.
Sử Yểm nói với Chu quân:
“Sao không sai người bảo Hàn công thúc rằng: ‘Nếu Tần dám đoạn giao với Chu để đánh Hàn, ắt là vì tin Đông Chu. Chi bằng Công ban đất cho Chu, bắt làm con tin sang Sở, khiến Tần nghi Chu không thật lòng với mình, vậy Tần sẽ không đánh Hàn.’
Lại bảo Tần rằng: ‘Hàn mạnh, cho đất Chu, là để khiến Chu ngờ Tần, Chu không dám không nhận.’
Tần không còn cớ, mà Chu lại được đất Hàn, vẫn giữ được lòng Tần.”
Tần triệu quân Tây Chu, quân vương không muốn đi, sai người nói với vua Hàn:
“Tần gọi quân Tây Chu là để bắt tấn công Nam Dương của ngài. Sao ngài không phát binh ở Nam Dương? Chu quân sẽ lấy đó làm cớ từ chối Tần. Chu không vào Tần, Tần ắt không dám vượt sông đánh Nam Dương.”
Đông Chu đánh nhau với Tây Chu, Hàn cứu Tây Chu.
Có người thuyết Hàn rằng:
“Tây Chu vốn là nước Thiên tử, có nhiều bảo vật quý.
Vương cứ án binh bất động, lấy nghĩa thu phục Đông Chu, rồi sẽ đoạt hết báu vật của Tây Chu.”
Vương Nạn nói với Thành Quân:
Sở vây Ung Thị, Hàn đòi quân và lương của Đông Chu.
Chu quân lo, gọi Tô Đại đến. Đại nói:
“Ngài lo gì? Thần có thể khiến Hàn không đòi quân lương, lại còn giúp ngài được Cao Đô.”
Chu quân nói:
“Nếu ông làm được, nước xin để ông quyết.”
Tô Đại đến gặp tướng quốc Hàn:
“Sở vây Ung Thị, kỳ hạn ba tháng, nay đã tháng năm chưa hạ được, tức Sở đang yếu.
Tướng quốc nay đòi quân lương của Chu, chẳng khác nào nói cho Sở biết mình đang yếu.”
Hàn tướng quốc nói:
“Phải. Nhưng sứ đã đi rồi.”
Tô Đại lại nói:
“Sao không cho Chu Cao Đô?”
Tướng quốc giận:
“Ta đã không đòi quân lương đã là nhân nhượng, sao còn phải cho Cao Đô?”
Tô Đại nói:
“Cho Cao Đô tức là khiến Chu quy thuận Hàn, Tần nghe vậy sẽ giận Chu, ngăn sứ Chu, tức là Cao Đô giúp Chu được yên ổn. Sao lại không cho?”
Tướng quốc nói:
“Hay lắm.”
Quả nhiên Hàn cho Chu Cao Đô.
Năm thứ 34, Tô Lệ nói với Chu quân:
“Tần phá Hàn, Ngụy, đánh Vũ Sư, chiếm Triệu Lận, Ly Thạch — đều do Bạch Khởi, người giỏi dùng binh, lại hợp mệnh trời.
Nay lại đem binh xuất ải đánh Lương, nếu Lương mất, Chu nguy.
Sao ngài không sai người đến thuyết Bạch Khởi, nói rằng:
‘Sở có Dư Cơ, thiện xạ, đứng cách 100 bước, bắn trúng lá liễu, trăm phát trăm trúng.
Có người đứng bên nói: “Giỏi, có thể dạy bắn được rồi.”
Dư Cơ giận, bỏ cung, rút kiếm, hỏi: “Ngươi sao dám dạy ta?”
Người ấy nói: “Ta không dạy cách trái phải, nhưng khi bắn liên tục không nghỉ, thì khí lực yếu, một phát trượt là bao công mất hết.”
Nay công đã phá Hàn, Ngụy, chiếm Triệu, lại định xuất quân vượt hai Chu, bỏ Hàn, đánh Lương. Một trận không thắng, thì mọi công lao trước đều uổng.
Chi bằng giả bệnh, không ra quân vậy.’”
Năm thứ 42, Tần phá Hoa Dương ước.
Mã Phạm nói với Chu quân:
“Xin để Lương xây thành Chu.”
Rồi đến nói với vua Lương:
“Chu vương ốm nặng, sắp chết, nếu tôi cũng chết.
Xin đem Cửu đỉnh vào nộp cho vương. Vương giữ đỉnh là nắm được tôi.”
Vua Lương nói:
“Hay lắm.”
Bèn sai quân đến Chu, nói là giữ thành.
Lại nói với vua Tần:
“Lương không giữ thành Chu, mà muốn đánh Chu.
Vua thử đem quân đến biên giới mà xem.”
Tần quả nhiên xuất binh.
Lại bảo vua Lương:
“Chu vương bệnh nặng, xin tạm hoãn.
Nếu vương đưa quân vào Chu, chư hầu sinh nghi, sau sẽ khó tin.
Chi bằng lấy danh nghĩa xây thành Chu, để che giấu việc thật.”
Vua Lương nói:
“Phải lắm.”
Quả nhiên cho quân xây thành Chu.
Năm thứ 45, khách nước Chu nói với Chu Tụ rằng:
“Chi bằng ngợi khen Tần vương hiếu thuận, nhân đó xin đất nuôi Thái hậu. Tần vương tất vui, ông sẽ có quan hệ tốt với Tần.
Nếu Tần giao hảo, Chu vương sẽ cho là công ông.
Nếu giao ác, thì kẻ khuyên Chu vào Tần sẽ mắc tội.”
Tần đánh Chu. Chu Tụ nói với vua Tần rằng:
“Kế hay là không đánh Chu.
Đánh Chu thì lợi ít, lại khiến thiên hạ e sợ Tần.
Thiên hạ e Tần, tất sẽ liên kết với Tề.
Tần hao binh tại Chu, thiên hạ nghiêng về Tề, Tần chẳng thể xưng vương.
Kẻ muốn Tần thất bại sẽ khuyên đánh Chu.
Tần mà đánh Chu, thì hiệu lệnh không thi hành.”
Năm thứ 58, ba nước Tấn ngăn Tần.
Chu sai tướng quốc đi sứ Tần, vì cho rằng Tần xem nhẹ Chu, nên quay về.
Có người nói với tướng quốc:
“Tần nặng nhẹ khó đoán.
Nay nên nhanh vào kiến Tần vương, nói:
‘Xin vâng mệnh Tần vương, theo dõi biến động phương Đông.’
Tần vương sẽ trọng ông.
Ông được trọng, tức là Chu được trọng.
Nếu Tề trọng ông, Chu vẫn giữ giao tình tốt với Tề.
Thế là Chu không mất quan hệ với cường quốc.”
Tần tin Chu, xuất binh đánh ba nước Tấn.
Năm thứ 59, Tần chiếm Hàn Dương, Phụ Thử.
Tây Chu lo sợ, quay sang theo chư hầu, mưu liên minh toàn thiên hạ, dấy binh ở Y Khuyết đánh Tần, khiến Tần không thể thông đường đến Hàn Dương.
Tần Chiêu Vương giận, sai tướng Cưu đánh Tây Chu.
Quân vương Tây Chu chạy sang Tần, lạy tạ, dâng cả 36 ấp, ba vạn khẩu dân.
Tần nhận, cho vua về lại Chu.
Về sau, Chu quân và Vương Nạn mất, dân Chu tan chạy sang phía Đông.
Tần lấy Cửu Đỉnh và bảo vật, dời Tây Chu công sang Đản Hồ.
Bảy năm sau, Tần Trang Tương Vương diệt Đông Chu và Tây Chu, cả hai đều thuộc về Tần.
Từ đó, nhà Chu tuyệt tự, không còn tế lễ.
Thái Sử Công nói:
Học giả đều nói Chu phạt Trụ rồi dời đến Lạc ấp, xét kỹ thì không hẳn đúng.
Võ Vương chỉ lập dinh trại, Thành Vương sai Triệu Công bói chọn nơi ở, đặt Cửu Đỉnh ở đó, nhưng Chu vẫn đóng đô tại Phong và Hạo.
Đến khi Khuyển Nhung giết U Vương, Chu mới thật sự dời sang Lạc ấp.
Sách chép: “Chu Công táng ở Tất,” mà Tất nằm ở đông nam đất Hạo, trong vùng Đỗ.
Tần diệt Chu.
Hơn 90 năm sau nhà Hán hưng khởi.
Thiên tử phong Thái Sơn, tuần du phía Đông đến Hà Nam, tìm dòng dõi nhà Chu, phong cho hậu duệ là Chu Tử Nam Quân, cấp 30 dặm đất, ngang hàng liệt hầu, để thờ tự tổ tiên.
Tần Bản Kỷ
Tổ tiên nhà Tần là hậu duệ của Đế Chuyên Húc, tên là Nữ Tu. Một hôm đang dệt vải, thấy chim Huyền điểu bay qua làm rơi trứng, Nữ Tu nuốt lấy mà mang thai, sinh con trai là Đại Nghiệp.
Đại Nghiệp cưới con gái của Thiếu Điển, tên là Nữ Hoa. Nữ Hoa sinh ra Đại Phí, người cùng Đại Vũ trị thủy bình địa. Khi công việc hoàn tất, vua ban cho ngọc huyền quỷ. Đại Vũ nói: “Không phải chỉ mình ta làm nên, Đại Phí cũng là người phụ tá đắc lực.”
Vua Thuấn khen ngợi: “Này Phí, khanh giúp Vũ lập công, nay ban cho đất Tảo Du. Hậu duệ của khanh ắt sẽ hưng thịnh.” Rồi gả con gái dòng họ Diêu tên là Ngọc Nữ cho Đại Phí.
Đại Phí nhận mệnh, giúp Thuấn điều phục chim thú, khiến cầm thú đều thuận phục. Người đời gọi ông là Bách Duệ. Vua Thuấn ban cho ông họ Doanh.
Đại Phí sinh hai con trai: một là Đại Liêm, là tổ của họ Tước Điểu; hai là Nhược Mộc, tổ của họ Phí. Hậu duệ là Phí Xương, con cháu có người ở Trung Nguyên, có người lưu lạc nơi Di Địch.
Phí Xương sống vào cuối đời Hạ, thấy Hạ Kiệt bạo ngược, bèn bỏ Hạ theo Thương, làm xa phu cho vua Thành Thang, giúp đánh bại Kiệt ở Minh Điều.
Con cháu của Đại Liêm là Mạnh Hí và Trung Diễn, mình chim mà tiếng nói như người. Vua Thái Vũ nghe chuyện, bói được điềm lành, cho họ làm ngự xa, lại gả con gái cho. Từ đời Thái Vũ về sau, hậu duệ của Trung Diễn nhiều đời có công, phò tá nhà Ân, nên họ Doanh ngày một hiển đạt, dần trở thành chư hầu.
Hậu duệ sau này là Trung Duật, trấn giữ vùng Tây Nhung, bảo vệ biên viễn phía tây. Sinh ra Phi Liêm, Phi Liêm sinh Ác Lai. Ác Lai có sức mạnh phi thường, Phi Liêm giỏi chạy, hai cha con đều nhờ tài lực mà phụng sự vua Trụ nhà Ân.
Khi Chu Vũ Vương phạt Trụ, giết luôn Ác Lai. Bấy giờ Phi Liêm đang trấn thủ phía bắc cho Trụ, nghe tin trở về, chẳng được ghi công. Ông lập đàn tế tại núi Thái Sơn, được ban quan tài đá, trên khắc rằng: “Ngươi là hậu duệ Sở Phụ, chẳng dính líu loạn nhà Ân, ban cho ngươi quan tài đá, họ Hoa giữ lấy.” Rồi ông được chôn tại Thái Sơn.
Phi Liêm có con là Quý Thắng, Quý Thắng sinh Mạnh Tăng. Mạnh Tăng được vua Thành Vương nhà Chu sủng ái, đóng tại đất Giao Lang. Giao Lang sinh Hoành Phụ, Hoành Phụ sinh Tạo Phụ.
Tạo Phụ giỏi đánh xe, được vua Mục Vương yêu quý, ban cho bốn ngựa quý: Kỳ, Ôn Lê, Hoa Lưu, Lục Nhĩ. Cùng vua đi tuần phương tây, vui quá quên về. Khi Từ Yển Vương làm loạn, Tạo Phụ đánh xe đưa Mục Vương về trong ngày, đi ngàn dặm để cứu nước.
Mục Vương ban đất Triệu cho Tạo Phụ, hậu nhân lấy họ Triệu. Từ Phi Liêm đến Tạo Phụ là năm đời, ở riêng đất Triệu. Nhà Triệu suy từ đó.
Ác Lai còn có người con khác là Cách, sớm qua đời. Cách sinh Nữ Phòng, Nữ Phòng sinh Bàng Cao, Bàng Cao sinh Thái Kỷ, Thái Kỷ sinh Đại Lạc, Đại Lạc sinh Phi Tử. Nhờ Tạo Phụ được yêu quý, cả nhà được phong ở Triệu, nên cùng mang họ Triệu.
Phi Tử cư ngụ tại Khuyển Khâu, ưa nghề nuôi ngựa, giỏi gây giống chăn nuôi. Người địa phương dâng lời về ông cho Chu Hiếu Vương. Vua bèn triệu ông về, giao cho quản lý đàn ngựa vùng giữa sông Khiên và sông Vị. Ngựa sinh sôi thịnh vượng.
Vua muốn lập Phi Tử làm người nối dõi Đại Lạc. Nhưng vợ Đại Lạc là con gái Thân Hầu đã sinh con trai tên là Thành, được chọn làm người kế tự.
Thân Hầu tâu rằng: “Xưa tổ tiên thần là con gái núi Lịch, làm vợ Nhung Hư Huyền, sinh ra Trung Duật. Vì thân thích, họ quy thuận Chu, trấn giữ Tây Thùy, khiến Tây Nhung thuận hòa. Nay lại gả con cho Đại Lạc, sinh Thành. Một lần nữa kết thân, Tây Nhung đều phục. Xin bệ hạ xét kỹ.”
Vua nói: “Xưa Bách Duệ giúp Thuấn chăn nuôi, sinh súc vật nhiều, được ban đất và họ Doanh. Nay con cháu cũng giúp trẫm chăm ngựa, công chẳng kém, nên lập đất phong chư hầu.” Bèn phong đất Tần, nối dòng họ Doanh, gọi là Tần Doanh. Đồng thời không phế con của Thân Hầu, để giữ hòa với Tây Nhung.
Tần Doanh sinh ra Tần Hầu. Tần Hầu trị vì mười năm thì mất. Con là Công Bá lên nối, trị ba năm thì mất. Con ông là Tần Trọng lên thay.
Tần Trọng trị ba năm, vào lúc Chu Lệ Vương vô đạo, chư hầu nhiều nơi nổi loạn. Tây Nhung phản lại triều đình, diệt tộc Khuyển Khâu – dòng họ Đại Lạc. Chu Tuyên Vương lên ngôi, phong Tần Trọng làm đại phu, cho đánh Tây Nhung. Sau đó ông bị giết trận. Ông trị vì hai mươi ba năm.
Tần Trọng có năm con trai, con trưởng là Trang Công. Chu Tuyên Vương triệu năm huynh đệ ấy, ban cho bảy nghìn binh, lệnh chinh phạt Tây Nhung, đánh bại được. Từ đó, phong lại đất cũ của Tần Trọng và đất Khuyển Khâu xưa của Đại Lạc, cho làm đại phu trấn giữ Tây Thùy.
Trang Công ở đất Khuyển Khâu phía tây, sinh ba con trai, con trưởng là Thế Phụ. Thế Phụ nói: “Người Nhung giết ông nội ta là Trọng, nếu ta chưa giết được vua Nhung thì chẳng dám vào thành.” Bèn đem quân đánh Nhung, nhường ngôi thái tử cho em là Tương Công.
Trang Công trị vì bốn mươi bốn năm thì mất, Thái tử Tương Công lên thay. Năm đầu, gả em gái là Mục Doanh cho vua Phong. Năm thứ hai, Nhung vây Khuyển Khâu, Thế Phụ đánh lại nhưng bị bắt. Hơn một năm sau mới được trả về.
Năm thứ bảy mùa xuân, Chu U Vương vì nghe theo Bao Tự mà phế thái tử, lập con Bao Tự làm người nối. Lừa dối chư hầu, khiến họ phẫn nộ. Tây Nhung và Thân Hầu hợp binh đánh Chu, giết U Vương tại núi Lịch. Tần Tương Công dẫn quân cứu Chu, đánh rất dũng mãnh, lập công lớn. Chu dời đô về Lạc Ấp, Tương Công đưa Chu Bình Vương đến nơi. Bình Vương phong Tương Công làm chư hầu, ban đất phía tây núi Kỳ, nói: “Người Nhung vô đạo, chiếm đất Kỳ và Phong, nếu Tần có thể đánh đuổi chúng thì được giữ đất đó.” Rồi lập thệ phong tước.
Từ đó, Tương Công lập quốc, giao hảo với chư hầu, thực hiện lễ mời sứ, yến kiến. Dâng lễ tam sinh gồm ngựa ô, bò vàng, cừu đực, tế Thượng Đế tại Tây Chỉ. Năm thứ mười hai, đánh Nhung đến đất Kỳ thì mất. Con là Văn Công nối ngôi.
Năm đầu Văn Công trị vì, ở tại cung Tây Thùy. Năm thứ ba, đem bảy trăm quân đi săn về hướng đông. Năm thứ tư đến nơi sông Khiên và Vị giao hội, nói: “Xưa tổ tiên Doanh nhà ta từng ở đây, sau mới được phong hầu.” Bèn bói để dời cư, được quẻ tốt, liền xây thành ở đấy.
Năm thứ mười, lập miếu tổ Phu Chỉ, tế ba sinh. Năm thứ mười ba, lần đầu đặt sử quan chép sử, dân chúng dần cảm hóa. Năm thứ mười sáu, đem binh đánh Nhung, giành thắng lợi. Thu nhận dân lưu tán của Chu, chiếm đất đến Kỳ, rồi dâng lại đất Kỳ về cho nhà Chu.
Năm thứ mười chín, được bảo vật nước Trần. Năm hai mươi, lập pháp luật về tội ba họ. Năm hai mươi bảy, đánh vùng núi phía nam, chặt cây đại tể và phong đặc sản dồi dào. Năm thứ bốn mươi tám, thái tử mất, được đặt thụy là Tĩnh Công. Con trưởng của Tĩnh Công làm thái tử, là cháu nội của Văn Công. Năm thứ năm mươi, Văn Công qua đời, chôn tại núi phía tây. Con của Tĩnh Công nối ngôi, gọi là Ninh Công.
Năm thứ hai, dời đô đến Bình Dương. Sai quân đánh nước Đãng Xã. Năm thứ ba, đánh nhau với nước Bạc, vua Bạc chạy sang Nhung, Đãng Xã bị diệt. Năm thứ tư, công tử Huy nước Lỗ giết vua Lỗ là Ẩn Công. Năm thứ mười hai, diệt họ Đãng, chiếm đất của họ.
Ninh Công lên ngôi lúc mười tuổi, trị vì mười hai năm thì mất, chôn tại núi phía tây. Có ba con trai, trưởng là Vũ Công, là thái tử. Em ông là Đức Công, con của phu nhân nước Lỗ, sinh ra Xước Tử. Sau khi Ninh Công mất, ba đại thần là Phất Kỵ, Uy Lũy, Tam Phụ phế thái tử, lập Xước Tử làm vua.
Xước Tử lúc lên ngôi mới năm tuổi, trị sáu năm thì bị ba đại thần sai người giết. Sau đó, họ lại lập lại thái tử xưa là Vũ Công.
Năm đầu Vũ Công trị vì, đánh nước Bành Hí đến dưới chân núi Hoa Sơn, cư trú tại phủ cung Bình Dương. Năm thứ ba, giết ba đại thần kia và tru di tam tộc, vì họ đã giết Xước Tử. Ở nước Trịnh, Cao Khu Mê giết vua Chiêu Công. Năm thứ mười, đánh Khuy và Ký Nhung, lần đầu lập huyện. Năm thứ mười một, lập huyện Đỗ và huyện Trịnh. Diệt nước Tiểu Quắc.
Năm thứ mười ba, nước Tề, hai đại phu Quản Chí Phụ và Liên Xưng giết Tề Tương Công, lập Công tôn Vô Tri lên ngôi. Nước Tấn tiêu diệt ba nước nhỏ là Hoắc, Ngụy, Canh. Quản tướng Tề là Dung Lẫm giết Vô Tri, Quản Chí Phụ và đồng đảng, lập Tề Hoàn Công. Từ đó, Tề và Tấn đều trở thành cường quốc.
Năm thứ mười chín, họ Khúc Ốc ở Tấn khởi đầu xưng hầu, lập thành Tấn Hầu. Tề Hoàn Công đi chầu tại Quyện.
Năm thứ hai mươi, Vũ Công qua đời, được an táng tại Bình Dương, đất Ung. Lúc đó vẫn còn theo tục chôn người tuẫn táng, có sáu mươi sáu người theo chết. Ông có một người con trai tên là Bạch, nhưng không được lập, được phong đất Bình Dương. Em trai của ông là Đức Công lên thay.
Năm đầu tiên Đức Công trị vì, dời đô về Ung Thành, trú tại Đại Trịnh cung. Dâng ba trăm con vật tế tại miếu tổ Phu chỉ. Xem quẻ để ở lại Ung. Về sau, con cháu nhà Tần đem ngựa uống nước ở sông Hoàng. Bá nước Lương và bá nước Duệ đến chầu. Năm thứ hai, bắt đầu có tục thờ thần rắn, dùng chó để trừ tà. Đức Công lúc lên ngôi ba mươi ba tuổi, trị vì hai năm thì mất. Có ba người con trai: con trưởng là Tuyên Công, thứ là Thành Công, út là Mục Công. Tuyên Công lên nối ngôi.
Năm đầu Tuyên Công trị vì, nước Vệ và nước Yên đánh Chu, phế Chu Huệ Vương, lập vương tử Thùy. Năm thứ ba, Bá nước Trịnh và Thúc nước Hách giết Thùy, rước Huệ Vương trở lại. Năm thứ tư, lập miếu tổ bí mật. Cùng nước Tấn đánh trận ở Hà Dương, giành chiến thắng. Năm thứ mười hai, Tuyên Công qua đời. Có chín người con, nhưng không lập, truyền ngôi cho em là Thành Công.
Năm đầu Thành Công trị vì, bá nước Lương và bá nước Duệ đến chầu. Tề Hoàn Công chinh phạt Sơn Nhung, đến đất Cô Trúc.
Trị vì được bốn năm thì mất. Có bảy người con, nhưng không ai được lập. Truyền ngôi cho em là Mục Công.
Năm đầu Mục Công lên ngôi, đích thân đi đánh Mao Tân, giành thắng lợi. Năm thứ tư, đón vợ từ nước Tấn, là chị gái của thái tử Thân Sinh nước Tấn. Cùng năm đó, Tề Hoàn Công đánh nước Sở, đến đất Thiệu Lăng.
Năm thứ năm, Tấn Hiến Công diệt hai nước là Vu và Hách, bắt vua Vu cùng đại phu là Bách Lý Hy. Vì Vu từng dâng ngọc và ngựa mà bị Tấn nghi ngờ. Sau khi bắt Bách Lý Hy, đem ông làm của hồi môn đưa sang Tần cho Mục Công. Bách Lý Hy trốn khỏi Tần, chạy đến đất Uyển, bị dân biên cương nước Sở bắt. Mục Công nghe danh Hy là người hiền, muốn chuộc lại, nhưng sợ nước Sở không chịu, bèn sai người nói với Sở rằng: “Kẻ theo hầu của ta là Bách Lý Hy bị bắt, xin lấy năm bộ da dê đực để chuộc.” Sở đồng ý trao người. Khi ấy, Bách Lý Hy đã ngoài bảy mươi tuổi.
Mục Công thả ông ra khỏi ngục, cùng luận bàn việc nước. Bách Lý Hy khiêm tốn rằng: “Tôi là kẻ tôi tớ nước mất, há đáng hỏi đến!” Mục Công đáp: “Vua Vu không dùng ông nên mới mất, chẳng phải lỗi ở ông.” Rồi ép hỏi. Hai người nói chuyện suốt ba ngày, Mục Công rất hài lòng, giao cho việc chính trị, phong hiệu là Ngũ Cổ đại phu.
Bách Lý Hy từ chối: “Tôi không bằng bạn tôi là Tiển Thúc. Tiển Thúc là người hiền mà thiên hạ không biết. Khi xưa tôi lang thang khốn khổ ở đất Tề, ăn xin nơi đất Chước, Tiển Thúc thu nhận tôi. Tôi định theo vua Tề là Vô Tri, nhưng Tiển Thúc ngăn cản, nên tôi thoát nạn Tề, tới nước Chu. Chu vương tử Thùy thích nuôi trâu, tôi lấy nuôi trâu mà dâng, được Thùy muốn dùng, Tiển Thúc lại ngăn, tôi tránh được họa. Sau theo vua Vu, Tiển Thúc cũng ngăn cản. Tôi biết vua Vu không dùng tôi, nhưng vì ham danh lợi nên vẫn ở lại. Ba lần nghe lời ông ấy thì thoát nạn, một lần không nghe thì gặp họa, nên tôi biết ông ấy thật sự là bậc hiền tài.” Mục Công bèn sai người mang lễ trọng rước Tiển Thúc về, phong làm Thượng đại phu.
Mùa thu, Mục Công thân chinh đánh Tấn, giao chiến tại Hà Khúc. Trong nước Tấn, Lê Cơ làm loạn, thái tử Thân Sinh tự tận ở Tân Thành, hai công tử Trọng Nhĩ và Di Ngô bỏ trốn.
Năm thứ chín, Tề Hoàn Công hội chư hầu tại đất Quỳ Khâu.
Vua Tấn Hiến Công băng hà. Lê Cơ lập con mình là Hy Tề lên ngôi, bị đại phu Lý Khắc giết. Tuân Tức lập Trác Tử, lại bị Lý Khắc giết cùng cả Tuân Tức. Di Ngô sai người cầu cứu nước Tần, xin được trở về Tấn. Mục Công đồng ý, sai Bách Lý Hy đem quân tiễn Di Ngô về nước. Di Ngô nói: “Nếu được lập làm vua, xin dâng tám thành phía tây sông Hoàng cho Tần.”
Khi Di Ngô trở về, đã lên ngôi, nhưng chỉ sai Phi Trịnh sang cảm tạ, không thực hiện lời hứa dâng đất, lại giết cả Lý Khắc. Phi Trịnh nghe tin thì sợ, liền bàn với Mục Công: “Người Tấn không ưa Di Ngô, thực ra muốn lập Trọng Nhĩ. Nay Di Ngô thất tín với Tần, lại giết Lý Khắc, đều là kế của Lữ Sanh và Hách Duệ. Xin chúa công giả vờ muốn thu lợi mà triệu Lữ và Hách tới. Họ đến rồi, lập lại Trọng Nhĩ là điều dễ.” Mục Công đồng ý, sai người theo Phi Trịnh về triệu Lữ và Hách. Nhưng hai người này nghi Phi Trịnh có mưu, bèn tâu với Di Ngô rằng Phi Trịnh đã bị giết. Con của Phi Trịnh là Phi Báo chạy sang Tần, khuyên Mục Công rằng: “Chúa Tấn vô đạo, dân không thuận, nên phạt.” Mục Công đáp: “Nếu dân không thuận, sao còn giết được đại thần? Giết được đại thần là nhờ sức dân vậy.” Rồi không nghe theo, nhưng ngầm trọng dụng Phi Báo.
Năm thứ mười hai, hai vị đại thần nước Tề là Quản Trọng và Tập Bằng qua đời.
Nước Tấn bị hạn hán, cầu xin lương thực. Phi Báo khuyên Mục Công đừng cấp, nhân họ đói mà đánh. Mục Công hỏi công tôn Chi, Chi rằng: “Đói hay no chỉ là việc xoay vần, không thể không cứu.” Hỏi Bách Lý Hy, Hy rằng: “Di Ngô có lỗi với chúa công, song bách tính nào có tội?” Cuối cùng, Mục Công nghe lời Bách Lý Hy và công tôn Chi, cấp cho nước Tấn lương thực. Dùng thuyền và xe chuyên chở, từ đất Ung nhìn sang Giáng còn thấy đoàn chuyển lương liên tiếp.
Năm thứ mười bốn, nước Tần bị đói kém, sai sứ cầu xin thóc từ nước Tấn. Vua Tấn bàn với các đại thần. Quan quốc sĩ là Quắc Xạ nói: “Lúc họ đói, ta đem binh đánh, ắt lập được đại công.” Vua Tấn nghe theo.
Năm thứ mười lăm, Tấn khởi binh định đánh Tần. Mục Công nước Tần cũng phát binh, sai Phi Báo làm tướng, tự mình cùng đi. Tháng chín, ngày Nhâm Tuất, giao chiến với Tấn Huệ Công – Di Ngô – tại đất Hàn.
Vua Tấn bỏ mặc quân mình, cùng quân Tần tranh giành lợi, quay đầu chạy, xe ngựa trật bánh. Mục Công cùng tướng sĩ phi ngựa đuổi theo, không bắt được vua Tấn, lại bị quân Tấn vây bọc. Mục Công bị thương.
Lúc ấy, có ba trăm dân chăn ngựa ở vùng Kỳ Hạ cưỡi ngựa giỏi xông vào phá vòng vây quân Tấn, giải cứu được Mục Công và bắt sống được vua Tấn.
Trước đây, Mục Công mất một con ngựa quý. Có ba trăm dân Kỳ Hạ cùng ăn thịt con ngựa ấy. Quan lại định bắt và xử tội. Mục Công nói: “Bậc quân tử không vì vật nuôi mà hại người. Ta nghe ăn thịt ngựa quý mà không uống rượu thì dễ tổn hại sức khỏe.” Bèn ban rượu và tha tội cho họ.
Ba trăm người ấy nghe tin Tần sắp đánh Tấn, đều xin đi theo. Khi thấy Mục Công lâm nguy, họ cùng nhau liều chết xông lên, lấy ơn ăn thịt ngựa để báo đáp.
Mục Công bắt được vua Tấn mang về. Truyền lệnh trong nước, buộc các quan đêm ấy tề chỉnh áo mũ, nói: “Ta sẽ dùng vua Tấn để tế Thượng Đế.”
Vua Chu nghe tin, nói: “Nước Tấn cùng họ với ta,” bèn sai sứ xin vua Tấn về. Em gái của Di Ngô lại là phu nhân của Mục Công. Khi nghe chuyện, bà mặc tang phục, đi chân đất, khóc mà rằng: “Anh em thần không giúp được nhau, khiến chúa công phải vướng chuyện này.”
Mục Công nói: “Ta bắt được vua Tấn là công lớn. Nay Thiên tử cầu xin, phu nhân lại lo lắng?” Rồi ông lập lời thề với vua Tấn, hứa trả về. Còn cho ở chỗ sang nhất, dâng lễ bảy loại vật để khoản đãi.
Tháng mười một, trả vua Tấn – Di Ngô – về nước. Di Ngô dâng đất phía tây sông Hoàng cho Tần, sai thái tử Dữ sang Tần làm con tin. Tần gả tông nữ cho thái tử Dữ. Khi ấy, đất Tần đã mở rộng tới tận sông Hoàng phía đông.
Năm thứ mười tám, Tề Hoàn Công qua đời.
Năm thứ hai mươi, Tần tiêu diệt hai nước Lương và Duệ.
Năm thứ hai mươi hai, công tử Dữ nước Tấn nghe tin vua Di Ngô bệnh nặng, nói: “Lương là quê mẹ ta, mà Tần đã diệt. Anh em ta đông, nếu sau khi vua băng, Tần ắt giữ ta lại, nước Tấn xem nhẹ, rồi sẽ lập kẻ khác.” Bèn trốn khỏi Tần, về Tấn.
Năm hai mươi ba, Tấn Huệ Công qua đời, công tử Dữ lên nối ngôi, tức Tấn Hoài Công. Tần giận việc Dữ trốn về, bèn đón công tử Trùng Nhĩ đang ở nước Sở, gả luôn vợ cũ của Dữ cho Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ lúc đầu từ chối, sau mới nhận. Mục Công tiếp đãi ông rất hậu lễ.
Mùa xuân năm thứ hai mươi tư, Tần sai người báo với các đại thần nước Tấn rằng muốn đưa Trùng Nhĩ trở về. Tấn đồng ý, Tần liền sai người hộ tống. Tháng hai, Trùng Nhĩ lên ngôi, tức Tấn Văn Công. Văn Công sai người giết Tấn Hoài Công Dữ.
Mùa thu năm ấy, em trai của Chu Tương Vương là Đới cùng người Địch đánh vua Chu, Chu vương phải lánh sang nước Trịnh.
Năm thứ hai mươi lăm, Chu vương cầu cứu Tấn và Tần. Mục Công thân chinh dẫn quân, giúp Tấn Văn Công đưa Tương Vương trở lại ngôi, giết vương thúc Đới.
Năm thứ hai mươi tám, Tấn Văn Công đánh bại Sở ở Thành Phố.
Năm thứ ba mươi, Mục Công giúp Tấn Văn Công vây nước Trịnh. Trịnh sai sứ nói với Mục Công: “Nếu Trịnh mất, Tấn sẽ được lợi lớn, còn Tần chẳng được gì. Tấn mạnh lên là mối lo của Tần.” Mục Công bèn lui binh, Tấn cũng rút.
Mùa đông năm thứ ba mươi hai, Tấn Văn Công qua đời.
Có người nước Trịnh định bán nước mình cho Tần, nói: “Ta giữ cổng thành, Tần có thể đánh úp.” Mục Công hỏi Tiển Thúc và Bách Lý Hy. Họ đáp: “Vượt qua mấy nước, hơn ngàn dặm mà đánh úp người, ít khi được lợi. Lại nữa, người ấy bán Trịnh, sao biết người nước ta không tiết lộ cho Trịnh? Không nên đánh.”
Mục Công nói: “Các ông không hiểu, ta đã quyết.” Liền phát binh, sai con của Bách Lý Hy là Mạnh Minh Thị, con Tiển Thúc là Tây Khất Thuật, và Bạch Ất Bính làm tướng.
Ngày xuất quân, Bách Lý Hy và Tiển Thúc khóc tiễn con. Mục Công nghe được, nổi giận: “Trẫm phát binh mà các khanh lại khóc, làm nhụt nhuệ khí là cớ gì?”
Hai vị lão thần tâu: “Thần nào dám làm nhụt quân tâm? Chỉ là con thần ra trận, thần già, sợ không còn gặp lại, nên mới khóc thôi.” Rồi lui ra, dặn con: “Các con sẽ bại, tất ở đất Hàm Cốc.”
Mùa xuân năm thứ ba mươi ba, quân Tần tiến sang phía đông, vượt đất Tấn, đi qua cổng bắc thành Chu. Chu vương tôn là Tôn Mãn nói: “Quân Tần vô lễ như vậy, không bại thì đợi gì nữa!”
Quân đến đất Hoạt. Có người buôn tên Huyền Cao, chở mười hai con bò định bán ở Chu, thấy quân Tần, sợ bị giết hoặc bắt, bèn hiến bò cho quân Tần, nói: “Nghe tin đại quốc sắp phạt Trịnh, chúa Trịnh đã chuẩn bị kỹ càng, sai tôi dâng bò để chiêu đãi quân sĩ.”
Ba tướng Tần nghe nói, bảo nhau: “Chúng ta định đánh úp Trịnh, nay Trịnh đã biết, đi thì không còn kịp.” Bèn lui quân, diệt nước Hoạt. Hoạt là ấp biên thùy của Tấn.
Lúc ấy, Tấn Văn Công vừa mất, còn chưa an táng. Thái tử Tấn – Tương Công – tức giận nói: “Tần khinh ta là trẻ mồ côi, thừa dịp tang lễ mà phá Hoạt.” Bèn mặc áo tang, phát binh chặn quân Tần ở đất Hàm, đại phá quân Tần, không một người nào thoát chết. Bắt sống ba tướng Tần mang về.
Vợ Văn Công là người nước Tần, xin tha cho ba người ấy, nói: “Mục Công oán ba người này tới tận xương tủy, mong được tự tay nấu chín họ để hả giận.” Tấn vương đồng ý, trả họ về Tần.
Khi ba người về đến, Mục Công mặc áo trắng ra ngoại thành đón, khóc mà nói: “Ta không nghe lời Bách Lý Hy và Tiển Thúc, khiến các ngươi chịu nhục, các ngươi có tội gì đâu? Nay mong các ngươi tận tâm rửa nhục, chớ có chểnh mảng.” Rồi phục chức, ban thưởng trọng hậu như xưa.
Năm thứ ba mươi tư, thái tử nước Sở là Thương Thần giết cha là Sở Thành Vương, lên thay.
Sau đó, Mục Công lại sai Mạnh Minh Thị và các tướng cũ dẫn quân đánh Tấn, giao chiến ở đất Bành Nha. Tần không thắng, phải rút về.
Vua Nhung sai sứ là Do Du đến Tần. Do Du vốn là người Tấn, từng bỏ nước mà sang sống với Nhung, giỏi nói tiếng Tấn. Nghe tiếng Mục Công là bậc hiền vương, vua Nhung bèn sai ông sang do thám Tần.
Mục Công đưa ông xem cung thất, kho tàng, lương thực tích trữ. Do Du nói: “Nếu do quỷ làm ra, thì quỷ cũng nhọc nhằn lắm thay; nếu do người làm ra, ắt dân chúng chịu khổ cực không ít.”
Mục Công lấy làm lạ, hỏi rằng: “Trung Nguyên trị quốc bằng thơ thư, lễ nhạc, pháp độ, vậy mà vẫn thường loạn. Còn như Di, Nhung các người không có những thứ ấy, sao lại có thể trị dân? Há chẳng khó sao?”
Do Du cười nói: “Chính bởi đó là gốc của loạn vậy. Xưa Hoàng Đế chế lập lễ nhạc pháp độ, thân mình noi trước, nên mới trị được đôi chút. Nhưng về sau, người đời ngày một kiêu sa, lấy uy của pháp luật mà áp xuống, dân dưới mỏi mệt thì lại dùng nhân nghĩa để trách ngược lên. Trên dưới xung đột, oán thù, rồi giết chúa phế vua, thậm chí tuyệt diệt cả dòng, đều từ đó mà ra.
Còn người Di Nhung thì không vậy. Bậc trên lấy đức thuần hậu mà đãi kẻ dưới, kẻ dưới lấy lòng trung tín mà phụng sự người trên. Một nước y như một thân, không cần biết cách trị mà trị được, đó mới là phép trị của thánh nhân thực sự vậy.”
Mục Công nghe xong, lui về hỏi Nội sử Liêu: “Ta nghe nước láng giềng có bậc thánh, thì là họa của nước mình. Nay Do Du là bậc hiền, há chẳng phải là tai họa của ta sao? Phải làm thế nào đây?”
Nội sử Liêu tâu: “Vua Nhung vốn là kẻ quê kệch, chưa từng biết tiếng Trung Hoa. Xin chúa công thử tặng ông ta nữ nhạc để mê hoặc; làm bộ xin lại Do Du, khiến hai bên có khoảng cách; lại giam giữ không cho về, khiến ông ấy lỡ hẹn. Vua Nhung nghi ngờ, tất sẽ sinh ngờ Do Du. Quân thần có chia rẽ, thì mới dễ bề bắt giữ. Huống nữa vua Nhung ham vui, tất sẽ lơi là chính sự.”
Mục Công nói: “Hay lắm.” Bèn thân ngồi cùng chiếu với Do Du, cùng ăn chung mâm, hỏi kỹ địa thế và binh lực nước Nhung. Sau đó, lệnh cho Nội sử Liêu đem mười sáu nàng nhạc dâng cho vua Nhung. Vua Nhung nhận lấy, mê mẩn, cả năm không gọi Do Du về.
Tần bèn giữ lại Do Du. Do Du nhiều lần khuyên can, nhưng không được nghe. Mục Công lại sai người ngầm gặp Do Du, lôi kéo. Do Du bèn bỏ Nhung về đầu hàng Tần. Mục Công đãi như thượng khách, hỏi kế đánh Nhung.
Năm thứ ba mươi sáu, Mục Công trọng thưởng Mạnh Minh và các tướng, sai đem quân đánh Tấn. Quân Tần vượt sông, đốt thuyền, đại phá quân Tấn, chiếm lấy Vương Quan và Hạo, để báo thù cho trận Hàm. Quân Tấn từ đó chỉ thủ thành, không dám ra đánh.
Mục Công từ bến Mao vượt sông, đến Hàm, thu nhặt hài cốt binh sĩ, lập đàn tế, khóc suốt ba ngày. Rồi thề với quân sĩ: “Than ôi các tướng sĩ! Nghe ta dặn đây. Người xưa mưu việc tóc bạc, thì việc không lỗi. Nay ta chẳng nghe lời Tiển Thúc và Bách Lý Hy, nên mới nên nông nỗi này. Lời thề này để người đời sau ghi nhớ lỗi của ta.”
Người quân tử nghe được, đều rơi lệ, nói rằng: “Ôi chao! Mục Công nước Tần thật biết trọng người hiền, nên cuối cùng cũng được phúc của Mạnh Minh vậy.”
Năm thứ ba mươi bảy, Mục Công dùng kế của Do Du, đánh vua Nhung, mở rộng đất đai thêm một ngàn dặm, thu phục mười hai nước, lập bá quyền ở Tây Nhung. Thiên tử nhà Chu sai Triệu Công sang chúc mừng, ban cho trống vàng và chuông đồng.
Năm thứ ba mươi chín, Mục Công mất, táng tại Ung. Có một trăm bảy mươi bảy người theo chết. Ba vị hiền thần nước Tần là con cháu họ Dư – tên là Yểm Tức, Trọng Hành, Châm Hổ – đều nằm trong số đó.
Người nước Tần thương xót, làm ra bài thơ “Hoàng Điểu” để điếu. Người quân tử nói: “Mục Công mở rộng bờ cõi, khuất phục Tấn ở phương đông, làm bá chủ ở phương tây, vậy mà không trở thành minh chủ chư hầu, cũng là lẽ tất nhiên. Ông chết mà bỏ dân, đem người hiền theo chết. Các bậc tiên vương khi mất còn để lại đức sáng, phép hay, huống chi ông lại đoạt đi những hiền thần được muôn dân kính mến? Bởi thế, Tần về sau không thể phục hưng ở phương đông được nữa.”
Mục Công có bốn mươi con trai. Thái tử Lăng nối ngôi, tức Tần Khang Công.
Năm đầu Khang Công trị vì, đúng vào lúc Mục Công qua đời, Tấn Tương Công cũng mất. Em của Tương Công tên là Ung, vốn sinh tại Tần, đang ở đất Tần. Triệu Đôn nước Tấn muốn lập Ung, sai Tùy Hội đến đón. Tần đưa quân hộ tống đến Lệnh Hồ. Nhưng Tấn lập con trai của Tương Công, rồi đánh lại quân Tần. Quân Tần bại trận, Tùy Hội chạy sang Tần.
Năm thứ hai, Tần đánh Tấn, chiếm Võ Thành, để báo thù trận Lệnh Hồ.
Năm thứ tư, Tấn đánh Tần, lấy đất Thiểu Lương.
Năm thứ sáu, Tần đánh Tấn, chiếm đất Kỵ Mã. Giao chiến ở Hà Khúc, đại phá quân Tấn.
Tấn thấy Tùy Hội đang ở Tần, lo sẽ gây loạn, bèn sai người dùng kế dỗ Hội trở về. Tùy Hội trở lại nước Tấn.
Khang Công trị vì mười hai năm thì mất. Con là Cộng Công nối ngôi.
Năm thứ hai Cộng Công trị vì, Triệu Xuyên nước Tấn giết vua Linh Công.
Năm thứ ba, Sở Trang Vương cường thịnh, đưa quân bắc phạt đến tận Lạc Ấp, hỏi thăm Chu đỉnh.
Cộng Công trị vì năm năm thì mất. Con là Hoàn Công nối ngôi.
Năm thứ ba, Tấn đánh bại một tướng nước Tần.
Năm thứ mười, Sở Trang Vương thu phục Trịnh, bắc đánh bại quân Tấn tại thượng lưu sông Hoàng. Lúc ấy Sở làm bá chủ, hội chư hầu kết minh.
Năm thứ hai mươi bốn, Tấn Lệ Công mới lên ngôi, cùng Tần Hoàn Công kết minh ở hai bờ sông. Sau đó, Tần bội ước, cùng người Địch hợp mưu đánh Tấn.
Năm thứ hai mươi sáu, Tấn dẫn chư hầu đánh Tần, quân Tần bại chạy, bị truy đến sông Kinh rồi mới lui.
Hoàn Công trị vì hai mươi bảy năm thì mất. Con là Cảnh Công nối ngôi.
Năm thứ tư Cảnh Công, Loan Thư nước Tấn giết vua Lệ Công.
Năm thứ mười lăm, Tần cứu Trịnh, đánh bại quân Tấn ở đất Lệ. Khi ấy Tấn Đạo Công là bá chủ chư hầu.
Năm thứ mười tám, Tấn Đạo Công cường thịnh, nhiều lần hội chư hầu, dẫn quân đánh Tần, phá được quân Tần. Quân Tần thua chạy, Tấn truy kích vượt sông Kinh, đến rừng Dực rồi mới quay về.
Năm thứ hai mươi bảy, Cảnh Công sang Tấn, kết minh với Bình Công, rồi lại bội ước.
Năm thứ ba mươi sáu, công tử nước Sở là Vi giết vua, tự lập, tức Sở Linh Vương.
Em mẹ của Cảnh Công là Hậu Tử Trâm được sủng ái. Lại có em mẹ là Hậu Tử Phú, bị người nói xấu, sợ bị giết, bèn bỏ trốn sang Tấn, mang theo cả ngàn cỗ xe.
Vua Tấn là Bình Công hỏi: “Hậu Tử Phú như thế, sao phải bỏ chạy?” Đáp rằng: “Chúa công nước Tần vô đạo, thần sợ bị giết, muốn đợi đời sau mới về.”
Năm thứ ba mươi chín, Sở Linh Vương cường thịnh, hội chư hầu tại đất Thân, làm bá chủ, giết Khánh Phong nước Tề.
Cảnh Công trị vì bốn mươi năm thì mất. Con là Ai Công nối ngôi. Hậu Tử trở lại nước Tần.
Năm thứ tám Ai Công, công tử nước Sở là Khí Tật giết Linh Vương, tự lập, tức Sở Bình Vương.
Năm thứ mười một, Sở Bình Vương sang cầu hôn, xin con gái nước Tần làm vợ cho thái tử Kiến. Khi công chúa đến nước Sở, vua thấy dung mạo đẹp, liền cưới làm vợ mình.
Năm thứ mười lăm, Sở Bình Vương định giết thái tử Kiến. Kiến bỏ trốn. Ngũ Tử Tư chạy sang nước Ngô.
Lúc này, vương thất nước Tấn suy yếu, sáu đại phu cường thịnh, đấu đá lẫn nhau. Vì thế Tần và Tấn lâu ngày không giao chiến.
Năm thứ ba mươi mốt, Ngô vương Hạp Lư cùng Ngũ Tử Tư đánh Sở. Vua Sở bỏ chạy sang đất Tùy. Ngô chiếm được thành Dĩnh.
Đại phu nước Sở là Thân Bao Húc đến Tần cầu cứu, bảy ngày không ăn, ngày đêm khóc lóc.
Tần bèn phát năm trăm cỗ xe cứu Sở, đánh bại quân Ngô. Ngô lui binh, Sở Chiêu Vương được trở lại kinh thành.
Ai Công trị vì ba mươi sáu năm thì mất. Thái tử là Di Công đã mất sớm, không thể nối ngôi, nên con Di Công được lập, tức Huệ Công.
Năm đầu Huệ Công, Khổng Tử làm tướng nước Lỗ.
Năm thứ năm, hai họ đại phu nước Tấn là Trung Hành và Phạm phản nước, Tấn sai Trí thị và Triệu Giản Tử đánh họ, Phạm và Trung Hành bỏ trốn sang Tề.
Huệ Công trị vì mười năm thì mất. Con là Đạo Công nối ngôi.
Năm thứ hai đời Đạo Công nước Tần, đại thần nước Tề là Điền Khất giết vua là Như Tử, lập anh của Như Tử là Dương Sinh lên thay, tức Tề Đạo Công.
Năm thứ sáu, nước Ngô đánh bại quân Tề. Người Tề giết Tề Đạo Công, lập con là Giản Công.
Năm thứ chín, Tấn Định Công cùng Ngô vương Phù Sai kết minh tại Hoàng Trì, tranh ngôi bá chủ, rốt cục Ngô tới sau, nhưng vẫn lấn hiếp Trung Nguyên.
Năm thứ mười hai, Điền Thường nước Tề giết Giản Công, lập em là Bình Công, tự mình giữ chức tể tướng.
Năm thứ mười ba, nước Sở diệt nước Trần.
Tần Đạo Công trị vì mười bốn năm thì mất, con là Lệ Cộng Công nối ngôi. Theo sử nhà Lỗ, năm thứ mười hai của Tần Đạo Công cũng là năm Khổng Tử qua đời.
Năm thứ hai đời Lệ Cộng Công, người Thục sang tiến cống.
Năm thứ mười sáu, đào chiến hào dọc theo sông, đem hai vạn quân đánh nước Đại Lệ, chiếm thành của vua nước ấy.
Năm thứ hai mươi mốt, lần đầu lập huyện Tần Dương. Cùng năm, Tấn chiếm Võ Thành.
Năm thứ hai mươi tư, Tấn loạn, giết Trí Bá, chia đất cho ba họ Triệu, Hàn, Ngụy.
Năm thứ hai mươi lăm, Trí Khai cùng người làng đến nương nhờ nước Tần.
Năm thứ ba mươi ba, Tần đánh nước Nghĩa Khư, bắt được vua nước này.
Năm thứ ba mươi bốn, nhật thực.
Lệ Cộng Công mất, con là Táo Công nối ngôi.
Năm thứ hai đời Táo Công, Nam Trịnh nổi loạn.
Năm thứ mười ba, Nghĩa Khư sang đánh, đến phía nam sông Vị.
Năm thứ mười bốn, Táo Công mất, em là Hoài Công lên thay.
Năm thứ tư đời Hoài Công, Đại trưởng lão Triều cùng các đại thần vây giết Hoài Công, ông phải tự sát. Thái tử của Hoài Công là Chiêu Tử đã mất sớm. Các đại thần bèn lập con của Chiêu Tử, tức cháu nội của Hoài Công, lên ngôi, là Linh Công.
Năm thứ sáu đời Linh Công, Tấn xây thành Tiểu Lương. Tần đánh phá.
Năm thứ mười ba, xây thành Tịch Cô.
Linh Công mất, con là Hiến Công không được lập, mà người em út của Linh Công là Đạo Tử, con của Hoài Công, được lập, tức là Giản Công.
Năm thứ sáu đời Giản Công, lần đầu quan lại đeo kiếm. Đào chiến hào quanh Lạc. Xây thành Trọng Tuyền.
Năm thứ mười sáu, Giản Công mất, con là Huệ Công nối ngôi.
Năm thứ mười hai đời Huệ Công, con là Xước Tử được sinh ra.
Năm thứ mười ba, đánh nước Thục, chiếm Nam Trịnh.
Huệ Công mất, Xước Tử lên ngôi, gọi là Xuất Tử.
Năm thứ hai, đại trưởng lão Cải nghênh đón Hiến Công, con của Linh Công, từ vùng phía tây sông Hoàng trở về, lập làm vua. Giết Xuất Tử và mẹ ông, vứt xác bên bờ vực.
Vì trước đó nước Tần nhiều lần thay vua, vua tôi bất hòa, nên nước Tấn lại mạnh lên, cướp lấy đất phía tây sông Hoàng của Tần.
Năm đầu đời Hiến Công, bãi tục tuẫn táng.
Năm thứ hai, xây thành Lạc Dương.
Tháng Giêng năm thứ tư, ngày Canh Dần, Hiếu Công được sinh ra.
Năm thứ mười một, thái sử Đam nước Chu gặp Hiến Công, nói: “Xưa Chu và Tần vốn cùng một mạch, rồi chia lìa; chia được năm trăm năm lại hợp; hợp được bảy mươi bảy năm, ắt sẽ có kẻ xưng bá.”
Năm thứ mười sáu, đào hoa nở vào mùa đông.
Năm thứ mười tám, có mưa vàng tại Lạc Dương.
Năm thứ hai mươi mốt, giao chiến với nước Tấn tại Thạch Môn, chém sáu vạn đầu. Thiên tử ban mũ miện thêu hoa để khen thưởng.
Năm thứ hai mươi ba, giao chiến với nước Ngụy và Tấn tại Tiểu Lương, bắt được tướng là Công Tôn Tỏa.
Năm thứ hai mươi tư, Hiến Công mất, con là Hiếu Công nối ngôi, khi đó đã hai mươi mốt tuổi.
Năm đầu đời Hiếu Công, phía đông sông Hoàng có sáu nước mạnh: Tề Uy, Sở Tuyên, Ngụy Huệ, Yên Đạo, Hàn Ai, Triệu Thành Hầu. Giữa sông Hoài và sông Tư còn hơn mười nước nhỏ. Sở và Ngụy giáp giới với Tần. Ngụy xây Trường Thành, từ bờ bắc sông Lạc đất Trịnh tới Thượng Quận. Sở từ Hán Trung, phía nam có Ba và Cầm Trung. Nhà Chu suy vi, chư hầu thi thố thế lực, tranh nhau thôn tính. Tần ở xa tại Ung Châu, không cùng họp minh với các chư hầu Trung Nguyên, bị người Di và người Địch coi thường.
Hiếu Công bèn ban ơn huệ, cứu tế cô quả, chiêu mộ tráng sĩ, nêu rõ thưởng phạt công lao. Hạ lệnh trong nước rằng:
“Xưa tổ Mục Công từ đất Kỳ Ung, tu đức dấy võ, dẹp loạn nước Tấn ở phương đông, lấy sông Hoàng làm ranh giới, xưng bá ở phía tây, mở rộng nghìn dặm, thiên tử ban bá vị, chư hầu đều chúc mừng, lập cơ nghiệp cho đời sau, rạng rỡ huy hoàng.
Gặp khi các đời Lệ, Táo, Giản, Xuất Tử không yên, quốc gia lắm nỗi lo trong, chẳng màng việc ngoài. Ba nước Tấn chiếm đất phía tây sông Hoàng của tổ tiên, các chư hầu khinh Tần, chẳng còn gì nhục hơn.
Hiến Công khi lên ngôi, trấn thủ biên cương, dời đô về Lạc Dương, định bụng đánh đông, khôi phục đất cũ của Mục Công, tu sửa chính lệnh của ông. Ta nghĩ đến chí của tiên quân, hằng đau nơi tim dạ. Kẻ sĩ, bề tôi nào có thể hiến kế làm Tần mạnh lên, ta sẽ phong quan trọng, chia đất ban cho.”
Bèn khởi binh vây thành Hàm phía đông, chém vua Nhung tên là Khoản phía tây.
Vệ Ưởng nghe thấy lệnh ấy, liền sang đất Tần, nhờ Cảnh Giám cầu kiến Hiếu Công.
Năm thứ hai, thiên tử ban lễ tế tổ.
Năm thứ ba, Vệ Ưởng khuyên Hiếu Công cải pháp, sửa hình luật, trong nước khuyến khích cày cấy, ngoài khích lệ chiến đấu, thưởng phạt phân minh. Hiếu Công lấy làm hài lòng. Can Long, Đỗ Chí và các đại thần khác phản đối, nhiều lần tranh luận. Cuối cùng dùng pháp của Vệ Ưởng. Dân ban đầu khổ, nhưng sau ba năm thì quen, dần thấy tiện lợi. Bèn phong Vệ Ưởng làm Tả Thự Trưởng. Sự tích ấy có chép trong Thương Quân Thư.
Năm thứ bảy, cùng Ngụy Huệ Vương hội tại Đỗ Bình.
Năm thứ tám, giao chiến với Ngụy tại Nguyên Lý, lập công lớn.
Năm thứ mười, Vệ Ưởng làm Đại Lương Tạo, đem quân vây thành An Ấp nước Ngụy, khiến nước này quy phục.
Năm thứ mười hai, xây dựng kinh đô Hàm Dương, dựng cổng lớn Ký Khuyết. Dời đô đến đó. Hợp các làng nhỏ thành huyện lớn, mỗi huyện đặt một lệnh, tổng cộng bốn mươi mốt huyện. Cải cách ruộng đất theo hình chữ điền. Mở rộng đất phía đông vượt qua sông Lạc.
Năm thứ mười bốn, lần đầu đặt ra thuế má.
Năm thứ mười chín, thiên tử ban bá vị.
Năm thứ hai mươi, chư hầu đều chúc mừng. Tần sai công tử Thiếu Quan đem quân họp chư hầu tại Phùng Trạch, chầu thiên tử.
Năm thứ hai mươi mốt, nước Tề đánh bại nước Ngụy tại Mã Lăng.
Năm thứ hai mươi hai, Vệ Ưởng đánh nước Ngụy, bắt được công tử Ứng của Ngụy. Phong Vệ Ưởng làm liệt hầu, hiệu là Thương Quân.
Năm thứ hai mươi tư, giao chiến với nước Tấn tại Nhạn Môn, bắt được tướng là Ngụy Thác.
Hiếu Công mất, con là Huệ Văn Quân lên thay. Cùng năm đó, Vệ Ưởng bị xử tử.
Trước kia, khi Vệ Ưởng mới thi hành pháp luật ở Tần, chưa được áp dụng triệt để. Thái tử phạm luật, Ưởng nói: “Pháp không thực hành là vì người quý tộc. Nếu chúa công muốn thi hành pháp luật, phải bắt đầu từ thái tử.” Thái tử không thể xăm mặt, nên Ưởng cho xăm mặt người thầy của thái tử.
Từ đó pháp được thi hành rộng khắp, người nước Tần bắt đầu được trị.
Đến khi Hiếu Công mất, thái tử lên ngôi, họ hàng trong tông thất oán hận Vệ Ưởng, bắt ông vì tội phản, xử tội xe xé xác để thị chúng.
Năm đầu Huệ Văn Quân trị vì, các nước Sở, Hàn, Triệu, Thục sang chầu.
Năm thứ hai, thiên tử ban lễ chúc mừng.
Năm thứ ba, đăng quang xưng vương.
Năm thứ tư, thiên tử ban lễ tế văn võ tổ tiên. Lúc ấy, Tề và Ngụy cũng xưng vương.
Năm thứ năm, Ẩn Tấn Nhân là Tê Thủ làm Đại Lương Tạo.
Năm thứ sáu, nước Ngụy nhường Ẩn Tấn, đổi tên thành Ninh Tần.
Năm thứ bảy, công tử Ứng giao chiến với nước Ngụy, bắt tướng của họ là Long Giả, chém tám vạn thủ cấp.
Năm thứ tám, Ngụy dâng đất phía tây sông Hoàng.
Năm thứ chín, Tần vượt sông, chiếm Phần Âm và Bì Thị. Hội kiến với Ngụy vương tại Ứng. Vây thành Tiêu, khiến nó phải hàng.
Năm thứ mười, Trương Nghi làm tể tướng nước Tần. Ngụy dâng Thượng Quận gồm mười lăm huyện.
Năm thứ mười một, lập huyện Nghĩa Khư. Trả lại cho Ngụy hai thành Tiêu và Khúc Ốc. Vua Nghĩa Khư quy phục làm thần, đổi tên Tiểu Lương thành Hạ Dương.
Năm thứ mười hai, lần đầu tổ chức lễ Lạp.
Năm thứ mười ba, tháng tư ngày Mậu Ngọ, vua nước Ngụy xưng vương, Hàn cũng xưng vương. Sai Trương Nghi đánh chiếm đất Hàm, bắt dân đưa sang Ngụy.
Năm thứ mười bốn, đổi niên hiệu làm năm nguyên niên.
Năm thứ hai, Trương Nghi họp mặt các đại thần nước Tề, Sở tại đất Nhiết Tang.
Năm thứ ba, thái tử nước Hàn và Ngụy sang chầu. Trương Nghi làm tướng nước Ngụy.
Năm thứ năm, nhà vua du ngoạn đến Bắc Hà.
Năm thứ bảy, Nhạc Trì làm tể tướng nước Tần. Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề dẫn quân Hung Nô cùng đánh Tần. Tần sai Đại trưởng Cật giao chiến ở Tu Ngư, bắt được tướng Thân Sái, đánh bại Triệu công tử Khát và Hàn thái tử Hoán, chém tám vạn hai ngàn thủ cấp.
Năm thứ tám, Trương Nghi lại làm tướng nước Tần.
Năm thứ chín, Tư Mã Thác đánh nước Thục, diệt được nước này. Đánh chiếm các đất Trung Đô, Tây Dương của nước Triệu.
Năm thứ mười, Hàn thái tử Thương sang Tần làm con tin. Đánh chiếm thạch chương của Hàn. Đánh bại tướng Nê của Triệu. Đánh chiếm hai mươi lăm thành của Nghĩa Khư.
Năm thứ mười một, Cổ Lý Cật đánh nước Ngụy, chiếm thành Tiêu. Đánh bại quân Hàn tại Nhai Môn, chém một vạn thủ cấp, tướng Tê Thủ bỏ chạy. Công tử Thông được phong đất Thục. Vua nước Yên nhường ngôi cho đại thần là Tử Chi.
Năm thứ mười hai, nhà vua và vua nước Lương hội kiến tại Lâm Tấn. Đại trưởng Cật đánh Triệu, bắt tướng là Trang. Trương Nghi làm tướng nước Sở.
Năm thứ mười ba, Đại trưởng Chương đánh Sở ở Đan Dương, bắt tướng Khúc Khải, chém tám vạn thủ cấp. Lại đánh Sở ở Hán Trung, chiếm sáu trăm dặm đất, lập Hán Trung quận. Nước Sở vây thành Ung thị, Tần sai Đại trưởng Cật giúp Hàn đánh Tề, Đạo Mãn giúp Ngụy đánh Yên.
Năm thứ mười bốn, đánh Sở, chiếm đất Triệu Lăng. Tướng Đan và Lê của Sở đầu hàng. Tể tướng nước Thục là Tráng giết Thục hầu rồi quy thuận Tần.
Vua Huệ Vương mất, con là Vũ Vương nối ngôi. Các nước Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Việt đều quy thuận thần phục.
Năm đầu Vũ Vương, cùng Ngụy Huệ Vương hội tại Lâm Tấn. Giết tể tướng Thục là Tráng. Trương Nghi và Ngụy Chương đều rút sang nước Ngụy. Tần đánh Nghĩa Khư, Đan, Lê.
Năm thứ hai, lần đầu đặt chức Thừa tướng, Cổ Lý Cật và Cam Mậu làm tả hữu thừa tướng. Trương Nghi mất tại nước Ngụy.
Năm thứ ba, cùng Hàn Tương Vương hội ngoài Lâm Tấn. Nam Công Khiết mất, Cổ Lý Cật làm tể tướng nước Hàn. Vũ Vương nói với Cam Mậu: “Trẫm muốn mở đường xe qua Tam Xuyên, dòm ngó nhà Chu, chết cũng không hối.” Mùa thu, sai Cam Mậu và Đại trưởng Phong đánh Yển Dương.
Năm thứ tư, chiếm được Yển Dương, chém sáu vạn thủ cấp. Vượt sông, xây thành Vũ Toại. Thái tử nước Ngụy sang chầu. Vũ Vương sức khỏe cường tráng, ưa trò lực sĩ. Lực sĩ Nhâm Bỉ, Ô Hoạch, Mạnh Thuyết đều được giữ chức lớn. Nhà vua cùng Mạnh Thuyết nâng đỉnh, bị trật gân lưng. Tháng tám, Vũ Vương mất. Tộc Mạnh Thuyết bị diệt.
Vũ Vương lấy con gái nước Ngụy làm hậu, không có con. Lập người em khác mẹ lên ngôi, tức Chiêu Tương Vương. Mẹ của Chiêu Tương Vương là người Sở, họ Mị, hiệu là Tuyên Thái Hậu. Khi Vũ Vương mất, Chiêu Tương Vương đang làm con tin ở Yên, người Yên đưa về, mới được lập.
Năm đầu Chiêu Tương Vương, Nghiêm Quân Cật làm tể tướng. Cam Mậu sang nước Ngụy.
Năm thứ hai, sao chổi xuất hiện. Đại trưởng Tráng cùng các đại thần, chư hầu, công tử làm phản, đều bị giết, cả Huệ Văn Hậu cũng không được chết lành. Hậu của Đạo Vũ Vương trở về nước Ngụy.
Năm thứ ba, Chiêu Tương Vương lên ngôi chính thức. Hội kiến với vua Sở tại Hoàng Cức, nhường đất Thượng Dung cho Sở.
Năm thứ tư, chiếm Phổ Phiến. Sao chổi lại xuất hiện.
Năm thứ năm, vua nước Ngụy sang chầu tại Ứng Đình, Tần trả lại Phổ Phiến cho Ngụy.
Năm thứ sáu, Thục hầu Huy làm phản, Tư Mã Thác dẹp yên Thục. Đại trưởng Hoán đánh Sở, chém hai vạn thủ cấp. Tĩnh Dương Quân sang làm con tin ở nước Tề. Nhật thực, trời tối giữa ban ngày.
Năm thứ bảy, chiếm thành Tân Thành. Cổ Lý Tử mất.
Năm thứ tám, sai tướng Mị Nhung đánh Sở, chiếm Tân Thị. Tề sai Chương Tử, Ngụy sai Công Tôn Hỷ, Hàn sai Bạo Diên cùng đánh Sở tại Phương Thành, chiếm đất Đường Mại. Nước Triệu diệt nước Trung Sơn, vua Trung Sơn chạy sang Tề, rồi chết tại đó. Công tử nước Ngụy là Kính, công tử nước Hàn là Trường được lập làm chư hầu.
Năm thứ chín, Mạnh Thường Quân Sáp Văn sang làm tể tướng nước Tần. Đại trưởng Hoán đánh Sở, chiếm tám thành, giết tướng là Cảnh Khoái.
Năm thứ mười, Sở Hoài Vương sang chầu nước Tần, bị Tần giữ lại. Sáp Văn dùng vàng để được miễn trách nhiệm. Lâu Hoãn làm tể tướng.
Năm thứ mười một, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Tống, Trung Sơn – sáu nước – cùng đánh Tần, đến đất Diêm Thị rồi rút. Tần cùng Hàn, Ngụy lập hòa ước tại phía bắc sông Hoàng và đất Phong Lăng. Sao chổi lại xuất hiện. Sở Hoài Vương bỏ chạy sang nước Triệu, Triệu không nhận, đưa trả về Tần, chết trong Tần, thi hài được đưa về an táng.
Năm thứ mười hai, Lâu Hoãn bị bãi chức, Tương Hầu nước Ngụy là Ngụy Nhiễm làm tể tướng. Tần ban cho Sở năm vạn thạch thóc.
Năm thứ mười ba, Hướng Thọ đánh Hàn, chiếm Vũ Thủy. Tả canh Bạch Khởi đánh Tân Thành. Ngũ đại phu Lễ bỏ trốn sang Ngụy. Nhâm Bỉ làm Thái thú Hán Trung.
Năm mười bốn, Bạch Khởi đánh Hàn và Ngụy tại Ất Khuyết, chém hai mươi bốn vạn, bắt sống Công Tôn Hỷ, chiếm năm thành.
Năm mười lăm, Đại Lương Tạo Bạch Khởi đánh Ngụy, chiếm đất Viên, rồi trả lại. Đánh Sở, chiếm Uyển.
Năm mười sáu, Tả canh Thác chiếm Chỉ và Đặng. Nhiễm bị bãi chức. Phong công tử Thị làm Uyển hầu, công tử Khôi làm Đặng hầu, Ngụy Nhiễm làm hầu đất Đào.
Năm mười bảy, Dương quân vào chầu, vua Đông Chu cũng đến. Tần lấy đất Viên đặt làm Phổ Phiến và Bì Thị. Vua đến ở Yển Dương.
Năm mười tám, Thác đánh Viên và Hà Ung, phá cầu mà chiếm được.
Năm mười chín, vua xưng Tây Đế, Tề xưng Đông Đế, rồi cùng bỏ xưng hiệu. Lữ Lễ quy phục Tần. Tề diệt nước Tống, vua Tống sang Ngụy rồi mất ở Ôn. Nhâm Bỉ mất.
Năm hai mươi, vua đến Hán Trung, rồi đến Thượng Quận và Bắc Hà.
Năm hai mốt, Thác đánh Ngụy ở Hà Nội. Ngụy hiến đất An Ấp, Tần di dân sang đó, khuyến khích người phạm tội dời đến Hà Đông, ban tước, tha tội. Phong Tĩnh Dương quân làm Uyển hầu.
Năm hai hai, Mông Vũ đánh Tề. Lập chín huyện ở Hà Đông. Vua hội kiến với vua Sở tại Uyển, hội với vua Triệu tại Trung Dương.
Năm hai ba, Vệ Tư Ly cùng ba Tấn và Yên đánh Tề, phá quân Tề tại Tây Tế. Vua hội Ngụy vương ở Yển Dương, hội Hàn vương ở Tân Thành.
Năm hai bốn, hội Sở vương tại Yển, lại hội tại Thường. Tần chiếm An Thành của Ngụy, tiến đến Đại Lương. Yên và Triệu đến cứu, Tần rút quân. Ngụy Nhiễm bị bãi chức tể tướng.
Năm hai lăm, chiếm hai thành của Triệu. Hội Hàn vương tại Tân Thành, hội Ngụy vương tại Tân Minh ấp.
Năm hai sáu, tha tội nhân, dời đến đất Thường. Hầu Nhiễm lại làm tể tướng.
Năm hai bảy, Thác đánh Sở. Tha tội nhân, đưa về Nam Dương. Bạch Khởi đánh Triệu, chiếm thành Quang Lang của đất Đại. Sai Tư Mã Thác xuất phát từ Long Tây, hợp với Thục đánh Sở ở đất Khiêm Trung, chiếm được.
Năm hai tám, Đại Lương Tạo Bạch Khởi đánh Sở, chiếm Yển, Đặng, tha tội nhân đưa về đó.
Năm hai chín, Bạch Khởi lại đánh Sở, chiếm đất Kinh, lập làm Nam Quận, vua Sở bỏ chạy. Vua nhà Chu đến chầu. Vua hội Sở vương tại Tương Lăng. Bạch Khởi được phong là Vũ An quân.
Năm ba mươi, Thục giữ Nhược đánh Sở, chiếm đất Vu Quận và vùng phía nam sông Giang, lập làm Khiêm Trung quận.
Năm ba mốt, Bạch Khởi đánh Ngụy, chiếm hai thành. Sở nhân phản Tần tại Giang Nam.
Năm ba hai, Tể tướng Tương Hầu đánh Ngụy, đến Đại Lương, phá Bạo Diên, chém bốn vạn thủ cấp. Diên bỏ chạy. Ngụy dâng ba huyện cầu hòa.
Năm ba ba, Khách khanh Hồ Dương đánh Ngụy ở Quyển, Thái Dương và Trường Xá, chiếm được. Đánh Mang Mão và Hoa Dương, đại phá quân địch, chém mười lăm vạn. Ngụy dâng Nam Dương để cầu hòa.
Năm ba bốn, Tần cùng Ngụy, Hàn nhập đất Thượng Dung, lập làm một quận. Tha thứ cho thần dân ở Nam Dương, cho dời đến.
Năm ba lăm, giúp Hàn, Ngụy, Sở đánh Yên. Lần đầu lập Nam Dương quận.
Năm ba sáu, Khách khanh Táo đánh Tề, chiếm Cương và Thọ, ban cho Tương Hầu.
Năm ba tám, Trung canh Hồ Dương đánh Triệu ở đất Yết Dữ, không chiếm được.
Năm bốn mươi, Thái tử Đạo mất ở Ngụy, táng tại Chỉ Dương.
Năm bốn mốt mùa hè, đánh Ngụy, chiếm Hình Khâu và Hoài.
Năm bốn hai, An Quốc quân làm Thái tử. Tháng mười, Tuyên Thái Hậu qua đời, táng tại núi Lệ ở Chỉ Dương. Tháng chín, Tương Hầu bị đuổi về đất Đào.
Năm bốn ba, Vũ An quân Bạch Khởi đánh Hàn, chiếm chín thành, chém năm vạn thủ cấp.
Năm bốn bốn, đánh Hàn tại Nam Dương, chiếm được.
Năm bốn lăm, Ngũ đại phu Bột đánh Hàn, chiếm mười thành. Diệp Dương quân Khôi bị đuổi về nước, chưa về thì mất.
Năm bốn bảy, Tần đánh Thượng Đảng của Hàn, Thượng Đảng đầu hàng Triệu. Tần nhân đó đánh Triệu, Triệu phát binh chống lại. Tần sai Bạch Khởi đại phá quân Triệu tại Trường Bình, giết hơn bốn mươi vạn người.
Năm bốn tám tháng mười, Hàn dâng đất Viên Ung. Quân Tần chia làm ba đạo. Vũ An quân rút quân. Vương Hột kéo quân đánh Triệu, chiếm được đất Bì Lao. Tư Mã Cảnh bình định vùng Thái Nguyên phía bắc, chiếm toàn bộ Thượng Đảng của Hàn. Tháng giêng, giải binh, lui về giữ Thượng Đảng. Tháng mười, Ngũ đại phu Lăng đánh Triệu tại Hàm Đan.
Năm bốn chín tháng giêng, lại phát binh giúp Lăng. Lăng đánh kém, bị bãi chức, Vương Hột thay làm tướng. Tháng mười, tướng Trương Đường đánh Ngụy, giữ thành Thái, tướng Cát Phất không giữ được, bị chém. Tháng mười hai, lại phát binh đóng quân tại Phần Thành. Bạch Khởi có tội, bị cách chức, làm lính thường, dời đến Ấm Mật. Trương Đường đánh Trịnh, chiếm được. Phát binh vây thành Phần, Bạch Khởi bị ép chết. Vương Hột đánh Hàm Đan không hạ được, lui quân, trở về đóng tại Phần. Hơn hai tháng sau, giao chiến với quân Tấn, chém sáu ngàn thủ cấp. Tấn và Sở có hai vạn binh chết trôi trên sông. Đánh Phần Thành, chiếm được Ninh Tân Trung từ tay Trương Đường, đổi tên thành An Dương. Lần đầu dựng cầu trên sông Hoàng.
Năm năm mươi mốt, tướng Khiêu đánh Hàn, chiếm Dương Thành và Phụ Thử, chém bốn vạn thủ cấp. Đánh Triệu, chiếm hơn hai mươi huyện, bắt sống chín vạn.
Vua Tây Chu phản Tần, liên kết chư hầu, huy động tinh binh toàn thiên hạ từ Ất Khuyết tiến đánh Tần, cắt đứt đường thông đến Dương Thành. Tần sai Khiêu đánh Tây Chu. Vua Tây Chu bỏ trốn, đến Tần xin tội, dâng ba mươi sáu thành với ba vạn dân. Tần vương chấp thuận, cho về nước.
Năm năm mươi hai, dân Chu bỏ chạy sang phía đông, Cửu Đỉnh rơi vào tay Tần. Nước Chu mất.
Năm năm mươi ba, thiên hạ quy thuận. Sau đó, Tần sai Khiêu đánh Ngụy, chiếm thành Ngô. Hàn vương sang chầu. Ngụy nhường quyền quốc chính.
Năm năm mươi tư, nhà vua tế Giao tại đất Ung, lễ cáo trời đất.
Năm năm mươi sáu mùa thu, Chiêu Tương Vương băng hà, con là Hiếu Văn Vương lên ngôi. Tôn bà Đường Bát tử làm Đường Thái Hậu, hợp táng với tiên vương. Hàn vương để tang, chư hầu đều sai tướng tể đến viếng.
Năm đầu Hiếu Văn Vương, đại xá tội nhân, tu bổ công trạng tiên vương, hậu đãi thân thích, bãi săn bắn.
Tháng mười ngày Kỷ Hợi, cử hành lễ đăng cơ. Ba ngày sau, ngày Tân Sửu, băng hà. Con là Trang Tương Vương nối ngôi.
Năm đầu Trang Tương Vương, đại xá tội nhân, tu bổ công trạng tiên vương, ban ân cho thân tộc, bố huệ cho dân. Vua Đông Chu mưu phản cùng chư hầu, Tần sai tể tướng Lã Bất Vi giết, thâu tóm nước Đông Chu. Không tuyệt tế tự, ban đất Dương Nhân cho họ Chu, tiếp tục thờ cúng.
Sai Mông Ngao đánh Hàn, Hàn hiến Thành Cao và Củng. Tần lập ranh giới đến Đại Lương, lần đầu lập quận Tam Xuyên.
Năm thứ hai, Mông Ngao đánh Triệu, bình định Thái Nguyên.
Năm thứ ba, Mông Ngao đánh Ngụy, chiếm Cao Đô và Cấp. Đánh Triệu ở Dụ Thứ, Tân Thành, Lang Mông, chiếm ba mươi bảy thành. Tháng tư có nhật thực.
Năm thứ tư, Vương Hột đánh Thượng Đảng. Lần đầu lập quận Thái Nguyên. Tướng Ngụy là Vô Kị dẫn quân năm nước đánh Tần, Tần bị đẩy lui về ngoài sông. Mông Ngao thất bại, lui quân.
Tháng năm ngày Bính Ngọ, Trang Tương Vương băng hà, con là Chính lên ngôi, tức Tần Thủy Hoàng Đế.
Tần Vương Chính năm thứ hai mươi sáu, lần đầu thống nhất thiên hạ, chia cả nước làm ba mươi sáu quận, xưng là Thủy Hoàng Đế. Thủy Hoàng Đế trị vì năm mươi mốt năm thì băng, con là Hồ Hợi lên ngôi, tức Nhị Thế Hoàng Đế. Năm thứ ba, chư hầu nổi dậy khắp nơi, Triệu Cao giết Nhị Thế, lập Tử Anh.
Tử Anh mới tại vị hơn một tháng thì chư hầu giết nốt, nhà Tần diệt vong. Việc này được ghi chép rõ trong Tần Thủy Hoàng bản kỷ.
Thái sử công nói:
Tiên tổ họ Doanh của nước Tần. Về sau phân phong, theo tên nước làm họ, có các họ: Từ, Đàm, Cự, Chung Lê, Vận Yểm, Thố Khâu, Tương Lương, Hoàng, Giang, Tu Ngư, Bạch Minh, Phi Liêm, Tần…
Dòng họ Tần vốn do tổ tiên là Tạo Phụ được phong ở Triệu Thành, nên cũng có dòng lấy họ Triệu.
